Thứ Bảy 24.07.2016
Kính thưa quý thính giả, Một người sử gia có công lớn trong việc biên soạn Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của nước Việt. Bộ Việt sử này được xem là kho tàng văn hóa của dân tộc. Trong tiết mục "Danh nhân nước Việt" tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Sử gia Lê Văn Hưu" của Việt Thái qua giọng đọc của Tam Thanh để chấm dứt chương trình phát thanh tối hôm nay.
Bà mẹ mang thai, sử nước nhà,
Trăm đời trở dạ, bút thần sa.
Gom hồn Đại Việt vào pho sách,
Trầm tích từng trang thắm thịt da.
Đó là 4 câu thơ của nhà thơ Huy Cận ca tụng sử gia Lê Văn Hưu.
Lê Văn Hưu người làng Phủ-lý, huyện Đông-Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông là
cháu 7 đời của Lê Lương, một vị hào trưởng đất Ái Châu dưới đời vua Đinh
Tiên Hoàng, nhưng đến thời nhà Trần thì gia thế sa sút. Lê Văn Hưu là
con ông Lê Văn Minh và bà Đỗ Thị, thuở nhỏ thông minh hiếu học, theo học
thầy giáo họ Nguyễn ở làng Phúc Triền và nổi tiếng là thần đồng.
Ông đỗ Bảng Nhãn năm Đinh Mùi (1247) dưới triều vua Trần Thái Tông
khi mới 17 tuổi. Ông được triều đình giao chức Kiểm Pháp quan, thăng lên
Binh bộ Thượng thư và sau cùng giữ chức Hàn lâm Học sĩ kiêm Quốc sử
Viện giám tu. Ông cũng là thầy của Thượng tướng Trần Quang Khải.
Trong thời gian làm việc ở Quốc sử viện, vua Trần Thái Tông giao ông
soạn bộ Đại Việt sử ký, tức bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi lại
những sự việc quan trọng trong lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ thời Triệu
Vũ đế (tức Triệu Đà) cho đến thời Lý Chiêu Hoàng. Bộ sử này gồm 30
quyển, được hoàn thành vào năm 1272. Đáng tiếc là bộ sách này đã thất
lạc, chỉ còn một ít lời bình được sử gia Ngô Sĩ Liên ghi lại trong Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư. Tuy nhiên, qua những đoạn văn rời rạc tìm được,
cũng minh chứng được ông là một sử gia có lòng yêu nước, có cách nhìn
tiến bộ đối với nhiều sự kiện lịch sử đương thời, gây nhiều xúc động đối
với người đọc. Ông luôn luôn tôn trọng và tự hào với những công lao
gian khổ, oanh liệt của các bậc tiền nhân, bất kể là thuộc triều đại
nào.
Ông nhiệt liệt ca ngợi hành động anh hùng của Hai Bà Trưng: "Hô một
tiếng mà Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại
đều hưởng ứng" đáng để cho "những bọn đàn ông chỉ biết cúi đầu bó tay
làm tôi tớ cho người phương Bắc" phải hổ thẹn.
Ông ca ngợi Ngô Vương Quyền là người đầu tiên khai sáng nền tự chủ
cho dân tộc, người mà chỉ "một cơn giận làm yên được dân nước mình, mưu
đã hay mà đánh cũng hay".
Là người mang hoài bão to lớn thống nhất đất nước, sử gia Lê Văn Hưu
cũng tán thưởng công lao dẹp loạn 12 sứ quân của Đinh Tiên Hoàng, gom
non sông về một mối.
Ông so sánh kỳ tích đánh giặc Tống và tiễu trừ nội loạn của vua Lê
Đại Hành, cộng với sự nghiệp xây dựng đất nước, được lòng dân. Ông khen
vua Lý Thái Tổ sáng suốt trong chiếu dời đô "làm cho lòng người vui vẻ,
làm cho vận nước dài lâu" với tinh thần khách quan và tự hào dân tộc.
Mặc dù vẫn bị quan điểm Nho giáo hạn chế, nhưng bộ sử của ông đã đóng
góp rất nhiều cho bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của sử gia Ngô Sĩ Liên về
sau này. Ông để lại cho đời sau nhiều nhận định quý giá về các sự kiện
lịch sử, cũng như những đoạn bình luận có tính văn học.
Hàn lâm Học sĩ Lê Văn Hưu mất ngày 9 tháng 4 năm 1322 (nhằm ngày 23
tháng 3 năm Nhâm Tuất), hưởng thọ 92 tuổi. Ông được an táng ở cánh đồng
xứ Mả Giòm, thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hiện
nay phần mộ vẫn còn với tấm bia dựng từ năm 1867, trên có khắc tiểu sử
và một bài thơ ca tụng tài đức, sự nghiệp của ông. Tên ông cũng được đặt
cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam.
***
Một trong điểm đặc sắc nhất trong quan niệm của sử gia Lê Văn Hưu là
đề cao tinh thần dân tộc Tiên Rồng và nhất là cách diễn đạt dồi dào tình
cảm dễ đi vào lòng người. Nếu nước Tàu hãnh diện với khí tiết của sử
gia Tư Mã Thiên, thì dân tộc Đại Việt cũng tự hào không kém về sử gia Lê
Văn Hưu, một vị quan công minh chính trực mà các sử gia cộng sản ngày
nay phải lấy làm xấu hổ vì đã bẻ cong ngòi bút để bịa đặt lịch sử, thậm
chí là tung hô những nhân vật không có thật như "cậu bé Lê Văn Tám".
Sẽ có người biện luận rằng, sở dĩ như thế là vì sử gia Lê Văn Hưu may
mắn được sống dưới một triều đại có nhiều minh quân, biết tận dụng hiền
tài, nên ông có cơ hội để thi thố tài ba của mình. Lý luận này có thể
đúng, nhưng không thể cho rằng vì chế độ cộng sản hung tàn độc ác mà
giới cầm bút, đặc biệt là các sử gia, phải chấp nhận bẻ cong sự thật hay
xuyên tạc lịch sử, dẫn đến hậu quả thê thảm là các thế hệ học sinh VN
hiện nay gần như "mù tịt môn lịch sử Việt".
Cần biết rằng, các văn thần trở thành danh nhân nước Việt, không chỉ
là những người có văn tài hay phải nắm giữ quyền cao chức trọng. Ngoài
văn tài và đức độ, họ còn là những người có khí tiết lẫm liệt, dám lên
tiếng phản đối các sai trái của vua quan, bất kể nguy hiểm cho cá nhân
mình. Biết bao nhiêu vị quan văn đã trả lại mũ mão, lui về ở ẩn vì không
muốn tiếp tay cho các hành động sai trái của triều đình.
Sử gia Lê Văn Hưu không cần phải có những hành động quyết liệt nói
trên vì ông may mắn được ở dưới trướng các vị minh quân nhà Trần sáng
suốt. Thế nhưng, ông vẫn ghi chép một sự thật không thể chối cãi là nhà
Trần đã tước ngôi vua của nhà Lý. Và đó chính là truyền thống liêm sỉ
của một người cầm bút.
Truyền thống liêm sỉ đã được nhiều thế hệ kẻ sĩ VN trân trọng gìn
giữ, kể cả sau khi đảng cộng sản VN cướp chính quyền ở miền bắc. Chẳng
hạn như Trần Dần, Phùng Quán và nhiều thành viên trong phong trào Nhân
văn Giai phẩm. Thế nhưng vì quá liêm sỉ, không chấp nhận làm bồi bút cho
chế độ, họ đã bị trù dập cho đến chết. Tuy nhiên lịch sử VN mai sau
chắc chắn sẽ vinh danh họ, những thư sinh "trói gà không chặt" nhưng có
khí tiết lẫm liệt như các bậc tiền nhân Lê Văn Hưu và Chu Văn An!
Việt Thái
No comments:
Post a Comment