Thursday, June 11, 2026

Tiếng Việt Trong Sáng, Kỳ thứ 35: Hương Linh/Thân/Thể, dã ngoại

Tiếng Việt Trong Sáng

Đỗ Văn Phúc

Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó… Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về các chữ Hương Linh/Thân/Thể, dã ngoại


Hương Linh, đố ai an táng được hương linh?

Con người khi sống có hai phần: thân thể và linh hồn. Phần linh hồn (spirit/ghost) của con người khi đã chết bên Phật Giáo gọi là hương linh 香靈 hay vong linh 亡靈. Phần thể xác (corpse/body) gọi là nhục thể (không phải nhục thân). Thân và Thể là hai chữ khác nhau

Tự điển Hán Việt chỉ có hai chữ nhục thể 肉體 Nhục  là xác thịt; thể  là nói về toàn bộ thân thể con người; còn thân chỉ là phần tử cổ xuống đến bẹn, không bao gồm đầu và tứ chi. Bài học cách trí bậc tiểu học “Thân thể người ta chia làm ba phần: đầu, mình, và chân tay.” Mình là thân; cũng như thân cây là phần ở giữa không có cành, lá, và rể.

Vì vậy khi con người qua đời, theo niềm tin các tôn giáo thì phần linh hồn của những người hiền lương sẽ rời phần thể xác để được Thánh Phê Rô hay Phật A Di Đà đón về cõi thiên đàng hay niết bàn hưởng phước đời đời - tuỳ theo người này là tín đồ Thiên Chúa Giáo hay Phật Giáo. Còn nếu phạm nhiều tội lỗi thì sẽ sa xuống địa ngục để nhận các hình phạt.  Phần thể xác còn lại thì tùy ý thích mà được chôn hay thiêu ra tro rồi gửi vào nơi thờ tự hoặc đem rải ra sông, biển.

Chúng tôi đi dự nhiều tang lễ của bên Phật Giáo và nghe các vị Đại Đức trong mấy ngày làm lễ - từ tẩm liệm đến phát tang, cúng cơm cho đến kết thúc - đều đọc nhiều lần các câu đại khái như sau:

Hôm nay là ngày mồng… tháng… năm…, tang quyền tụ tập về đây để làm lễ an táng cho nhục thân hương linh ông Nguyễn Văn X. pháp danh Thích Y. Z.

Chỉ an táng hay hỏa táng ‘nhục thân’ thôi sao? Còn đầu và chân tay để đâu?

Nhục thể (hay nhục thân) được an táng hay hoả thiêu thì đúng rồi, chẳng có chi thắc mắc.

Nhưng hương linh thì đã ra khỏi phần xác, đang lảng vảng quanh quẩn đâu đó chờ nghe ông sư và tang quyến đọc hết mấy chục lần niệm khẩn xin Phật A Di Đà rước về cõi vĩnh hằng. Có khi hương linh nghe kinh dài mệt oải quá, nên đã nhanh nhảu tung cánh bay đi xa mất rồi cũng nên. Thế thì an táng hay hoả táng hương linh là thế nào đây?

Thời chúng tôi còn nhỏ, thấy các vị sư tu hành thường có trình độ Hán văn khá thâm sâu. Họ không những đọc và hiểu các bản kinh mà còn có tài viết các bài văn, thơ chữ Hán. Ngày nay có lẽ những vị sư không mấy rành chữ Hán nên cứ đặt ra những câu tụng theo ý mình mà không cần biết đúng sai.

Dã Ngoại  

Tự Điển Thiều Chửu có định nghĩa như sau:

 dã (11n) là

1: Ðồng. Như khoáng dã 曠野 đồng ruộng. Nguyễn Du 阮攸 : Nghiệp Thành thành ngoại dã phong xuy 鄴城城外野風吹 (bên ngoài thành Nghiệp gió đồng thổi).

2 : Cõi, người ngày xưa chia vạch bờ cõi, theo đúng các vì sao, nên gọi là phân dã 分野.

3 : Dân quê. Như triều dã 朝野 nơi triều đình, chốn dân quê.

4 : Quê mùa.

Ở trang 162, Tự Điển Hán Việt Đào Duy Anh, có chữ

 

Tự Điển Tín Đức, trang 144 định nghĩa:

 

Sự ghép hai chữ Dã và Ngoại hoàn toàn đúng với văn phạm; đó là một tĩnh từ được hiểu là ngoài trời, nơi thiên nhiên xa nơi dân cư, phố thị. Chỉ cần bước ra khỏi ranh giới khu dân cư, một thị trấn, là đã ra đến nơi đồng quê. Đơn giản là ngoài đồng, ngoài phạm vi thị trấn, khu dân cư. Sự ghép này có khác gì các chữ ‘thư trung, gia trung, thành nội, thành ngoại, hải ...’

Đứng một mình, chữ ‘dã ngoại’ không hề có ý nghĩa là các sinh hoạt, vui chơi... Nó phải được đi theo sau một danh từ. Ví dụ: Chúng tôi thích sống dã ngoạiHướng Đạo chú trọng các hoạt động dã ngoại, du hành dã ngoại, cắm trại dã ngoại. Có thể nói “đi dã ngoại.” Nhưng đi làm gì? Đơn thuần đi bộ dạo chơi hay tập thể dục, hay đi lang thang như kẻ thất tình?

 

Ngày nay, ở Việt Nam có khuynh hướng dùng chữ Dã Ngoại như một danh từ hay động từ để nói về những hoạt động ở nơi thiên nhiên như picnic, cắm trại, du ngoạn. Cách dùng sai như thế này khá phổ biến ở Việt Nam, như các chữ ‘ấn tượng’ (cô ấy hát ấn tượng), ‘thần tượng’ (Tôi thần tượng ca sĩ Mi Mi),  ‘tâm tư’ (trong trường hợp xui xẻo của anh, tôi rất tâm tư). Nói kiểu thế này thì hoàn toàn không chấp nhận được, vì nó không tròn nghĩa, dùng sai các loại từ (danh từ dùng như động từ). 

Nói chung, có rất nhiều chữ hiện nay ở  Việt Nam dùng sai, nhưng điều này không có nghĩa là những chữ đó sai.

Lại nói về tĩnh từ chỉ số lượng

Trong một bài phát thanh có đề cập đến các thứ tự của tĩnh từ và danh từ, chúng tôi có đưa ra thí dụ về hai nhóm chữ Hắc Tam Sơn, Bạch Nhị Hà được quân nhân Sư Đoàn 22 Bộ Binh của VNCH dùng để nói về đặc điểm của vùng đất họ trấn giữ.

Mới đây, có một độc giả góp ý rằng “Nhưng khi người trong cuộc quan niệm Tam Sơn và Nhị Hà là những danh từ kép thì họ có quyền nói ‘Hắc Tam-Sơn, Bạch Nhị-Hà’.”

Nói về địa danh có kèm theo con số, ở miền Bắc Việt Nam chỉ có sông Nhị Hà (cũng là sông Hồng Hà chảy từ vùng Nam Trung Hoa ra vịnh Bắc Phần; đoạn chảy từ Lào Cai đến Việt Trì thì có tên là sông Thao, đoạn kế chảy qua Hà nội thì có tên là sông Nhị), sông Lục Đầu (gồm sáu con sông: sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy, sông Thái Bình gặp nhau tạo thành); ở miền Nam thì có sông ‘Cửu Long’ do sông Mekong khi chảy vào nước ta thì đổ ra biển bằng 9 nhánh, nên người ta đã đặt tên là Cửu Long. Về núi thì ở miền Bắc có núi ‘Tam Đảo’, miền Nam thì có vùng Thất Sơn ở Châu Đốc, Gần Đà Nẵng thì có Ngũ Hành Sơn. Nếu chúng tôi kể thiếu, kính xin quí vị bổ túc giùm.

Chúng tôi không tìm thấy trong sách địa lý của VN núi “Tam Sơn” hay sông “Nhị Hà’ nào ở vùng Pleiku, Kontum mà Sư Đoàn 22 trấn giữ cả. Những con sông và núi non ở miền Trung không có liên đới với nhau để tạo thành những vùng có tên riêng là Nhị Hà, Tam Sơn.

Do đó, lý luận của vị độc giả nêu trên là không hợp lý; không thể viết ‘Hắc Tam Sơn, Bạch Nhị Hà,’ mà phải là ‘Tam Hắc Sơn, Nhị Bạch Hà’ thì mới đúng với văn phạm, thứ tự các tĩnh từ bổ nghĩa cho danh từ. Xin nhắc lại: Tĩnh từ chỉ số lượng luôn đứng trước các tĩnh từ khác.

Sau đây là thứ tự của các chữ bổ nghĩa (modifiers, có thể là tĩnh từ, trạng từ, danh từ...) trong Việt Ngữ. Trong Hoa Ngữ hay Anh Ngữ thì đảo ngược lại, ngoại trừ tĩnh từ số lượng và mạo tự  luôn luôn đúng đầu:

1. Tĩnh từ về số lượng, kế đó là mạo từ, luôn đứng đầu nhóm chữ, trước danh từ chính.

Kế đó là danh từ chính, theo sau nó lần lượt các loại từ bổ nghĩa sau:

2. Những danh từ được dùng như tĩnh từ.

3. Chữ bổ nghĩa chỉ về vật liệu.

4. Chữ bổ nghĩa chỉ về xuất xứ:

5. Chữ bổ nghĩa chỉ về màu sắc.

6. Chữ bổ nghĩa chỉ về hình thể. :

7. Chữ bổ nghĩa chỉ về cũ mới,  già trẻ.

8. Chữ bổ nghĩa chỉ về kích cỡ.

9. Chữ bổ nghĩa chỉ về phẩm chất

 

Đỗ Văn Phúc

 

No comments:

Post a Comment