Thursday, June 25, 2026

Chương trình Tiếng Việt Trong Sáng, Kỳ thứ 37: Sàm Sỡ/Xàm Xỡ và Chung Thủy hay Thủy Chung

Tiếng Việt Trong Sáng

Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó… 

Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về các chữ Sàm Sỡ/Xàm Xỡ và Chung Thủy hay Thủy Chung

Sàm Sỡ hay Xàm Xỡ?

Khi nghe câu: “Ông này tính nết xàm xỡ lắm,” thì chúng ta thường nghĩ đến hành vi không lịch sự của vài người đàn ông vốn có máu dê, tay chân thường táy máy tìm cách sờ soạng, bốc hốt phụ nữ hay có những lời nói bậy bạ không đứng đắn. Rất nhiều người đã nói hay viết thành “sàm sỡ.” Quả thực nhiều người trong chúng ta thường phân vân không biết chắc chữ nào đúng, chữ nào sai.

Các bài viết, bản tin trên báo chí bên Việt Nam đều viết chữ “sàm sỡ.” Sách luật của Việt Nam Cộng Sản định nghĩa “sàm sỡ hành vi dùng lời nói hoặc cử chỉ với mục đích quấy rối tình dục hoặc làm nhục người khác, xâm phạm đến quyền được bảo hộ sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của công dân được pháp luật bảo hộ” (sic)

Trong cuốn Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, “xàm” được định nghĩa là bậy, quấy. Có các chữ ghép với “xàm” như “xàm xỉnh” là bậy bạ, “xàm xỡ” là quấy phá. Nói xàm là nói bậy bạ. (Tiến Đức trang 647). Nói xàm còn nghĩa là nói nhảm nhí, vô duyên. 

 

Ông Lê Ngọc Trụ cũng định nghĩa “xàm” là nói càn bậy, nói như người điên với các chữ ghép như “xàm xĩnh, bá xàm, nói tầm xàm.” (Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị, trang 430)

 

Ngoài ra còn một chữ “sàm” từ chữ Hán  mà theo định nghĩa là “gièm pha, thêu dệt các lời nói bậy làm cho mất cái hay cái phải của người đi gọi là sàm.”

Trong Tự Điển Tiến Đức có thêm các chữ ghép với sàm là:  sàm nịnh, sàm bang, sàm ngôn: đều mang cùng nghĩa gièm pha (Tiến Đức trang 481).

Cuốn Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh thì chỉ có chữ “sàm” (trang 182) mà không có chữ Xàm (vì xàm là tiếng Việt thuần túy dĩ nhiên không có trong Hán Việt Tự Điển). Trong 16 chữ ghép với chữ “sàm” thì đa số mang ý nghĩa gièm pha, chỉ có một chữ “sàm” với nghĩa là lộn xộn, không chỉnh tề.

Việt Hán Tự Điển của Huỳnh Minh Xuân trang 690 có chữ “sàm”với ví dụ “nói sàm” với ý nghĩa gièm pha. Ở trang 918 có chữ “xàm” với các thí dụ: xàm xĩnh, xàm xỡ.

Trong Sổ Tay Chính Tả Tiếng Việt của nhóm ông Nguyễn Song Thuận (Hùng Sử Việt xuất bản, 2017) thì không thấy chữ “xàm” mà chỉ có chữ “sàm” với cả hai nghĩa suồng sã và gièm pha. Ví dụ: Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng (Kiều). Cũng câu Kiều này mà trong Việt Nam Tự Điển viết chữ “xàm xỡ.”

Chúng tôi cố gắng tìm thêm và thấy có chữ “suồng sã” và “sỗ sàng” có nghĩa là không câu nệ lễ phép, Thí dụ: ăn nói sỗ sàng là nói năng thiếu lễ phép. lịch sự (Tiến Đức, trang 494).

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng (Kiều)

Qua tra cứu nhiều tài liệu khả tín cả cũ lẫn mới, hai chữ “xàm xỡ” và “sàm sỡ” khó xác định chữ nào đúng chữ nào sai. Có thể đoán rằng chữ “sàm” gốc chữ Hán bị đọc trại thành “xàm” chăng? Vả lại, nếu sử dụng chúng mà không gây ngộ nhận hay sai ý nghĩa thì chúng ta cũng không nên khắt khe bắt bẻ.

Cũng lưu ý: Trong bài này có chữ “gièm pha” mà thấy đa số tự điển ghi “gièm” nhưng cũng có vài tự điển ghi cả hai chữ “dèm” và “gièm.”

Chung Thủy hay Thủy Chung?

Lại có một số điện thư bàn cãi về hai chữ Chung Thủy và Thủy Chung. Vài vị thì cho rằng chữ Chung Thủy chỉ dùng cho tình nghĩa vợ chồng, còn với bạn bè thì phải nói chữ Thủy Chung. Họ cũng cho rằng không dùng chữ Thủy Chung cho các trường hợp khác. Thật ra, “Thủy Chung” hay “Chung Thủy” chỉ là một do cách hoán vị của chữ sao cho êm tai mà thôi.

Thủy là khởi đầu, Chung là kết thúc. Thủy Chung   là có trước, có sau. Chúng ta có câu thành ngữ cùng ý nghĩa: Truớc sau như một, Có người viết và đọc thành Chung Thủy, cũng chẳng làm sai ý nghĩa của nó.

Trong mối quan hệ vợ chồng, đôi nam nữ thề hẹn với nhau sẽ giữ tình yêu thủy chung cho đến lúc răng long đầu bạc; đó là giữ được nghĩa tình trọn vẹn với nhau từ khi cưới nhau cho đến khi cái chết làm cho chia cách. Trong quan hệ bạn bè, đồng chí, nếu người ta giữ một lòng một dạ với nhau từ lúc mới quen, mới cộng sự cho đến khi xa lìa, kết thúc thì gọi là có thủy có chung. Trong phạm trù cao hơn, thì đó là lòng trung thành. Trung thành với tổ quốc, trung thành với lý tưởng mình theo đuổi. Thậm chí cũng có thể áp dụng chữ trung thành trong tình vợ chồng, tình bạn bè.

Xét cho cùng, dùng chữ Thủy Chung chính xác hơn chữ Chung Thủy.

Xin lưu ý rằng người ta có khuynh hướng hoán vị các chữ để nghe thuận tai, thuận vần, thuận âm bằng trắc như trường hợp các câu thơ, lời nhạc. Trong tiếng Việt, có rất nhiều từ ngữ (đa số là tĩnh từ) có thể hoán vị mà không thay đổi ý nghĩa. Nếu chịu khó sưu tầm, con số có thể lên đến cả trăm chữ ghép.

Ví dụ: Chung thủy/thủy chung, lửng lơ/lơ lửng, may rủi/rủi may, cơ duyên/duyên cơ, kiều diễm/diễm kiều, trang điểm/điểm trang, vui buồn/buồn vui, phúc họa/họa phúc, tha thiết/thiết tha, thướt tha/tha thướt, vấn vương/vương vấn, tươi thắm/thắm tươi, vân vân.

Tưởng cũng cần lưu ý thêm. Có hai chữ “Chung Tình”   hay “Chung Ái”    có nghĩa là “rót cả [dồn cả] ái tình vào một người.” Tự Điển Tiến Đức, trang 138.

Chữ Chung  trong trường hợp này có nghĩa là “rót vào, đúc lại, họp, chứa,” khác với Chữ Chung   trong Thủy Chung. Nhưng người Việt Nam ta lại  thường nói “Chung Tình” để chỉ sự thủy chung trong tình yêu đương trai gái. Điều này không đúng. Nhưng đã dùng quen rồi thì đành chấp nhận vậy; bởi chúng ta không thể cứ khăng khăng dùng Hán Tự làm chuẩn để bắt bẻ cách dùng trong tiếng Việt.

 

No comments:

Post a Comment