Kính thưa quý thính giả,
Lịch sử VN ghi nhận một nhà nho đa tài, tánh tình thanh liêm, cương trực. Khi làm quan hết lòng chăm lo việc nước, từng tỏ thái độ chống Pháp nên được giới sĩ phu và người dân miền Trung hết lòng ngưỡng mộ. Ông là một trong những người đã góp phần tạo nên xu hướng canh tân trong lịch sử thời cận đại, và được xem là nhân vật nổi bật trong lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và ngoại giao.
Trong chuyên mục Danh nhân nước Việt tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài “Thượng thư Phạm Phú Thứ” của Việt Thái qua giọng đọc của Minh Nguyệt để chấm dứt chương trình phát thanh tối hôm nay.
Phạm Phú Thứ tên là Phạm Hào, sinh năm 1821 tại Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Khi đỗ Tiến sĩ, được vua Thiệu Trị đổi tên thành Phạm Phú Thứ. Phạm Phú Thứ lấy hiệu là Trúc Đường, biệt hiệu Giá Viên, thụy hiệu là Văn Ý Công.
-Năm 1842, Phạm Phú Thứ dự thi Hương, đỗ Giải nguyên khi mới 21 tuổi.
-Năm 1843, ông dự thi Hội, đỗ Hội nguyên. Khi vào thi Đình, ông đỗ Tiến sĩ và là Tiến sĩ đầu tiên của vùng đất Quảng Nam.
-Năm 1844, ông được bổ làm Biên tu, năm sau thăng làm Tri phủ Lạng Giang, rồi thăng làm Thị độc. Sau đó, ông xin từ nhiệm vì có tang cha.
-Năm 1849, trở lại triều đình, ông được chuyển qua Tập Hiền Viện giữ chức Khởi Cư Chú (thư ký ghi lời nói và hành động của vua).
-Năm 1850, thấy vua ham vui, lơ là việc triều chính, ông dâng sớ can gián, nên bị cách chức và bị giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế).
-Năm 1852, ông được khôi phục hàm Biên tu.
-Năm 1854, được cử làm Tri phủ Tư Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
-Năm 1855, được điều sang công tác quân sự để giải quyết cuộc bạo động của người Thượng ở Đá Vách, Quảng Ngãi. Sau khi dẹp yên, ông được thăng chức Án Sát Sứ hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Nội.
-Năm 1858, ông được chuyển về làm việc trong Nội Các tại Huế.
-Năm 1859, ông xin về quê dưỡng bệnh và cải táng mộ cha.
-Năm 1860, được thăng chức Thị lang bộ Lại.
-Đầu năm 1863, vua Tự Đức xét thấy trong các điều khoản trong Hòa ước Nhâm Tuất có điều không thỏa đáng, liền giao cho ông làm Khâm Sai vào Gia Định, hội ý với cụ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp để đàm phán với Pháp và Tây Ban Nha. Nhiệm vụ không thành, ông bị giáng cấp. Thời gian sau, ông được cử làm Phó sứ, cùng với Chánh sứ Phan Thanh Giản và Bồi sứ Ngụy Khắc Đản, sang Pháp và Tây Ban Nha để xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.
-Tháng 2 năm 1864, sứ bộ về đến Huế. Ngoài bản tường trình để thuyết phục vua Tự Đức cải cách việc học tập và phát triển công nghiệp, ông còn dâng 2 tác phẩm do ông làm trong chuyến đi với tựa đề “Tây Hành nhật ký” và “Tây Phù thi thảo”. Vua khen ngợi và bổ nhiệm ông làm Tham tri bộ Lại.
-Năm 1865, ông được thăng chức Thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật viện Đại thần. Ở chức vụ này, ông đã mật tấu xin đặt 4 Tuyên Phủ sứ ở Quảng Trị, Bình Định, Nghệ An và Hưng Hóa.
-Năm 1867, cụ Phan Thanh Giản từ trần, triều đình cử ông thay thế để điều đình với Pháp. Nhưng Pháp không hài lòng về cách xử sự cứng rắn của ông, triều đình Huế cũng không hài lòng vì việc thương lượng bất thành, nên ông bị gọi về kinh.
-Năm 1873, vì phạm lỗi, ông lại bị giáng làm Thị lang. Thời gian sau, ông được khai phục chức Tham tri.
-Năm 1874, triều đình cho mở nhà Thương chánh ở Bắc Kỳ, ông được bổ nhiệm làm Tổng lý Thương chánh Đại thần.
-Năm 1876, ông được giao chức Tổng đốc Hải An.
-Năm 1878, thăng làm Hiệp biện Đại học sĩ.
-Năm 1881, ông được Tây Ban Nha gửi tặng khánh vàng.
-Năm 1882, ông từ trần tại quê nhà, hưởng thọ 61 tuổi.
Ngoài Tây Hành nhật ký và Tây Phù thi thảo, ông còn để lại nhiều tác phẩm như: Trúc Đường thi tập, Giá Viên toàn tập, Bản triều Liệt thánh sự lược, Thuật Tiên đức, Lịch triều Thống hệ Niên phả, Bác vật Tân biên, Hàng hải Kim châm .v.v.
*****
Trong bối cảnh gian truân của đất nước từ thập niên 50 đến thập niên 70 ở thế kỷ 19, thân thế và sự nghiệp của đại thần Phạm Phú Thứ được Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi chép trong Đại Nam Thực lục Chính biên, Đại Nam Liệt truyện, Quốc triều Chính biên, trở thành nguồn sử liệu viết về ông.
Nhìn lại cuộc đời hoạt động vì dân vì nước của đại thần Phạm Phú Thứ trong hoàn cảnh khó khăn phức tạp của đất nước, càng thấy tầm vóc của một nhà canh tân suốt đời nung nấu ý tưởng kinh bang tế thế. Ông để lại dấu ấn của mình trên nhiều lãnh vực: từ đối nội đến đối ngoại, từ chính trị đến quốc phòng, từ an ninh đến kinh tế, văn hóa, xã hội.
Tuy hoài bão không thành vì hoàn cảnh không cho phép, bản thân ông cũng không thể vượt qua được những khó khăn của thời đại, nhưng tầm vóc “kinh bang tế thế” của ông luôn trường tồn với quê hương đất nước. Những đóng góp quan trọng của ông minh chứng rằng, ông đã hết lòng “trông coi việc nước, cứu giúp người dân", nên ông xứng đáng là niềm tự hào của người dân Điện Bàn - Quảng Nam.
Sử sách rồi đây sẽ ghi công trạng của nhiều con dân nước Việt, những người có tấm lòng yêu nước thương dân như Phạm Phú Thứ, một đại thần của triều Nguyễn vào thế kỷ thứ 19. Đồng thời, sẽ ghi thêm vào sách sử: Đảng CSVN là tội đồ của dân tộc.
No comments:
Post a Comment