Thursday, March 26, 2026

Quang Nam & Nhà Văn Đỗ Văn Phúc: Cơ Trưởng – Nhân Văn – Văn Hóa

Tiếng Việt Trong Sáng

Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó… 

Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về các chữ Cơ Trưởng – Nhân Văn – Văn Hóa 

Thí dụ 1: -Theo https://tudien.dolenglish.vn/co-truong-tieng-anh-la-gi:

Cơ trưởng là người có vị trí đứng đầu trong tổ lái là người có trách nhiệm cao nhất quản lý và điều hành mọi chuyến bay đảm bảo an toàn và tránh được mọi sự cố.

Thí dụ 2: -https://ngayngayvietchu.com/co-truong-tu-buong-lai/

Thông tin sách:
Tên sách: CƠ TRƯỞNG TỪ BUỒNG LÁI
(Tên sách được rút từ lời chào của cơ trưởng mỗi khi bắt đầu một chuyến bay.)
Tác giả: Thư Uyển
Nhà xuất bản Phụ Nữ
Đơn vị phát hành: Nhã Nam
Ngày phát hành: 20/10/2022

-Thí dụ 3: hầu hết các báo baomoi, vietnamnet, Báo Dân Trí v.v… có nhiều bài dùng “cơ trưởng/cơ phó”

 

Hỏi 1 : Thưa Nhà văn Đỗ Văn Phúc, hôm nay chúng tôi xin được hỏi ý của ông về một số chữ mà riêng cá nhân chúng tôi đọc qua cũng nghe rất chướng mắt.  Đầu tiên là chữ “cơ trưởng”… thưa ông, Chúng tôi thấy hầu hết các tờ báo lề đảng trong nước như baomoi, vietnamnet, Báo dân trí v.v… đều dùng chữ “cơ trưởng” khi nói về một captain hay một phi công trưởng của một chuyến bay. Thậm chí, khi chúng tôi tra một số từ điển trên mạng trong nước hiện nay, thì họ định nghĩa của chữ cơ trưởng như sau: “Cơ trưởng là người có vị trí đứng đầu trong tổ lái là người có trách nhiệm cao nhất quản lý và điều hành mọi chuyến bay đảm bảo an toàn và tránh được mọi sự cố.

Thưa ông, xin được hỏi ông: Cơ Trưởng là cái gì?

Cơ Trưởng là gì?

Hiện nay ở VN, người ta dùng chữ Cơ Trưởng khi nói về người đứng đầu trên một chiếc phi cơ.

Cơ là chữ tắt của “Cơ Khí” (mechanical) chứ không phải từ chữ “Phi Cơ ” (airplane). Chữ “Cơ Trưởng” không thể dùng để nói đến người đứng đầu trên một chiếc phi cơ. Thực ra, người đứng đầu trên chiếc phi cơ gọi là Trưởng Phi Hành Đoàn, Trưởng Phi Cơ, Hoa Tiêu chính.

Trong ngành hàng không dân sự, những nhân viên trên phi cơ gọi là Phi Hành Đoàn (flight crew). Người phi công chính (hay còn gọi là hoa tiêu chính) là người đứng đầu (captain) có thể dịch là Trưởng Phi Hành Đoàn. Kế đó là một, hai hay ba hoa tiêu phụ (co-pilot); Kỹ sư Cơ Khí (flight engineer), Nhân viên Không Hành (flight navigator), Nhân viên Truyền tin (radio operator), và các Tiếp viên Hàng Không (flight attendants). Tùy theo nhiệm vụ, mà còn có thêm nhiều nhân viên khác như trên các phi cơ cứu nạn hay vận tải còn có thêm Y tá Hàng Không (flight medic) hoặc nhân viên áp tải (loadmaster).

Hỏi 2: Chúng tôi được biết ông từng phục vụ trong quân chủng Không Quân trước đây, xin ông giải thích thêm về cơ cấu của một phi hành đoàn trong quân đội ra sao?

Trong quân chủng Không Quân, tùy loại phi cơ và tùy nhiệm vụ chiến thuật mà các đoàn phi hành có nhân số ít hay nhiều. Ít nhất là các phi cơ chiến đấu (fighter); nhiều nhất là các phi cơ vận tải (cargo).

Đại khái một phi hành đoàn có:

Hoa tiêu chính (pilot), Hoa tiêu phụ (co-pilot), Nhân viên Không hành (flight engineer), Cơ phi (crew chief), Xạ thủ Phi hành (air gunner), Tiếp viên (flight attendants) Chuyên viên Bom đạn (bombardier), Y sĩ/Y tá Hàng không (flight surgeon/nurse), Nhân viên Áp tải (loadmaster), Quan sát viên (observer), Truyền tin (radio operator), Chuyên viên Vũ khí (weapon system officer/operator), vân vân.

Hoa tiêu chính không gọi là Captain như trong hàng không dân sự; cho nên chúng ta có thể tạm gọi là Trưởng Phi Cơ. Xin chớ nhầm lẫn với chức vụ Flight Commander là người chỉ huy một phi vụ tác chiến với sự tham gia của nhiều phi cơ, thường là ba đến nhiều nhất là sáu chiếc.

Hỏi 3: Chúng tôi cũng có nghe nói đến một chức vụ khác, nghe hơi lạ tai, đó là ‘cơ phi’. Cơ Phi là gì thưa ông?

Ngày trước trong các đơn vị Không Quân VNCH có chức “Cơ Phi” (Crew Chief). Tuy gọi là Crew Chief, nhưng anh này không phải là chief của một crew nào cả, và cũng chẳng làm ‘chief’ ai cả. Anh là một hạ sĩ quan với các nhiệm vụ của được ấn định theo sách vở là:

1. Kiểm soát tiền phi, hậu phi, và tổng quát các hệ thống trên phi cơ.

2. Theo dõi các hoạt động máy móc khi phi hành để bảo đảm an toàn và theo đúng tiêu chuẩn qui định.

3. Kiểm soát để tìm ra các hư hỏng, sửa chữa hư hỏng. Theo dõi, giữ các mẫu Kiểm Soát hư hỏng (Discrepancies Form) và hồ sơ bảo trì.

4. Các công tác bảo trì, phản ứng nhanh hữu hiệu khi có tình huống bất ngờ.

5. Và vài việc khác liên quan đến huấn luyện, hướng dẫn, bảo trì…

Tuy thế, đa số các công tác bên trên là nhiệm vụ chính của các nhân viên bảo trì. Họ thuộc các Đoàn Bảo Trì, trong khi anh cơ phi thì thuộc các phi đoàn. Trong thực tế của Không Quân Việt Nam, anh cơ phi này là nhân viên có cấp bậc thấp nhất trong phi hành đoàn. Người lính Không Quân chúng tôi thường gọi đùa anh này là một anh “lơ” máy bay. Vì nhiệm vụ của anh ta là canh giữ phi cơ, dọn dẹp trong ngoài phi cơ. Khi chuẩn bị phi hành thì anh ta xem các mẫu OR (operational ready) do chuyên viên bảo trì ký sau khi đã làm kiểm soát hậu phi (post-flight) và tiền phi (pre-flight check). Khi hoa tiêu sửa soạn nổ máy thì anh ta đứng dưới đất làm thủ hiệu hay khẩu lệnh cho biết an toàn xung quanh, nhất là phía đuôi phi cơ. Khi chuẩn bị ra rời bãi đậu, anh này tháo rút các chốt an toàn (safety pins) là các cái chốt có nối với một miếng vải đỏ, gắn vào các bộ phận bánh đáp, đuôi phi cơ, các trái bom; tháo gỡ mấy cục gỗ chặn các bánh đáp. Tuy mang danh là “Cơ Phi” nhưng anh này chỉ làm ở phi đạo mà không đi theo trên các phi cơ nhất là phi cơ chiến đấu, quan sát (đâu có dư ghế) và trực thăng (vì phải dành chỗ chở quân và hàng hoá).

Tôi viết đoạn này dựa trên hiểu biết của tôi khi làm công tác bảo trì cho loại phi cơ C-130 của Không Quân Việt Nam. Còn đối với các loại phi cơ khác, không rõ thế nào.

 

Hỏi 4: Thưa ông, có một chữ rất hay mà chúng tôi thấy người ta hay dùng nó trong nhiều trường hợp khác nhau, đó là chữ Nhân Văn. Chẳng hạn, khi người ta thấy cảnh một em bé phụ giúp một cụ già băng qua đường thì nói đó là một hành động rất nhân văn, hay một hình ảnh rất nhân văn… thưa, dùng chữ nhân văn như thế có vẻ “đao to búa lớn” quá không?

Nhân Văn là gì?

Ở trong nước hiện nay, người ta ưa khen những việc làm hay đẹp là “Một hành vi rất NHÂN VĂN, một câu nói NHÂN VĂN, một cảnh tượng NHÂN VĂN…”

Kể ra thì hai chữ NHÂN VĂN không đến nỗi sai lắm; nhưng nó quá xa vời với những điều thông thường trong đời sống hàng ngày.

Hai chữ NHÂN VĂN (人文) có nghĩa và cách dùng rất rộng.

NHÂN VĂN là văn hoá của con người. Nó là một phạm trù rất bao quát; gồm hầu hết mọi lãnh vực liên quan đến con người từ chính trị, xã hội, lịch sử, luật pháp, nghệ thuật, văn chương…

Người Trung Hoa khi viết chữ Nhân với hai nét (), nó có nghĩa là con người.

Nhưng khi viết với bốn nét () gồm chữ Nhân và chữ Nhị ghép vào nhau, thì nó hàm ý sự tương quan giữa người với người. Nó có nghĩa là đạo lý làm người, phải thế mới gọi là người. Yêu người không lợi riêng mình cũng gọi là nhân.

 

Hỏi 5: Vậy có chữ nào để thay thế cho chữ Nhân Văn trong những trường hợp thông thường không?

Trong khi để khen một hành vi tốt mà con người thực hiện trong khi cư xử với nhau thì có khá nhiều chữ như: Nhân ái, nhân đạo, nhân từ, nhân đức,nhân hậu

Nhưng chữ ghép với NHÂN mà chúng ta thường nghe là:

Nhân bản: lấy con người làm căn bản. Ví dụ: Trước 1975, học sinh miền Nam chúng ta được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản.

Nhân đạo: đạo lý của người. Ví dụ: Chính phủ VNCH áp dụng một chính sách nhân đạo đối với tù binh Cộng Sản.

Nhân hậu, nhân từ: Ví dụ: Hãy lấy lòng nhân từ mà cư xử với nhau! Bà Năm là một phụ nữ nhân hậu.

Nhân đức: Ví dụ: Ăn ở nhân đức thì sẽ được Trời Phật đền bù xứng đáng.

Nhân tính: Mang tính chất con người. Ví dụ: Bọn Cộng Sản đã thảm sát gần 7000 thường dân Huế trong Tết Mậu Thân. Đúng là bọn người đã mất nhân tính.

Nhân vị: Coi trong vị trí con người trong xã hội. Ví dụ: Chủ thuyết Nhân Vị là cơ sở để xây dựng xã hội, là ngọn đuốc soi đường của nền Đệ Nhất Cộng Hoà.

Nhân trị: Dùng nhân đức trong chính sách cai trị; đối nghịch với Pháp Trị là hoàn toàn dùng pháp luật mà cai trị.

Tóm lại, có quá nhiều chữ hay, đúng ghép với chữ NHÂN; tại sao cứ lúc nào cũng NHÂN VĂN?

 

Hỏi 6: còn “văn hóa” cũng vậy. Rất nhiều người nói rằng họ rất bực khi nghe những câu như “văn hóa ẩm thực”, “văn hóa cư xử”, ông nghĩ sao ?

 

Như có lần đọc bài báo ở Việt Nam nói về chuyến du lịch ở Nhật; thay vì viết :”Người Nhật không có lệ cho hay nhận tiền ‘tip’” thì lại bày đặt văn hoa rằng: “Người Nhật không có văn hoá típ.”

 

 

No comments:

Post a Comment