Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó…
Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về các chữ Xuất Cảng & Xuất Khẩu?
Hỏi:Chúng tôi nhận thắc mắc của vài thính giả hỏi về các chữ Xuất Cảng, Nhập Cảng; Xuất Khẩu, Nhập Khẩu; chữ nào đúng, chữ nào sai.Trước 1975, ở miền Nam chỉ nghe các chữ Xuất Cảng, Nhập Cảng; từ sau khi CS chiếm miền Nam, chúng ta không còn nghe những chữ trên nữa, mà thay vào là các chữ Xuất khẩu, Nhập Khẩu.
Đáp:
Trước khi có nhận xét đúng sai, xin phép tìm nghĩa từng chữ một.
Xuất, nhập là ra vào; ai cũng biết, khỏi mất công giải thích. Nhưng xuất và nhập trong nhóm chữ này còn có ý nghĩa là sự giao thương, gửi hàng hóa, bán hàng hóa ra nước ngoài; và mua vào, nhận vào hàng hóa từ nước ngoài. Sự xuất, nhập phải diễn ra ở một nơi có đủ cơ sở, nhân viên, kho hàng, phương tiện bốc vác, chuyên chở. Nơi đó gọi là cửa (khẩu) hay là bến (cảng).
Khẩu là cửa sông dùng cho đường thủy, cửa ải cho đường bộ. Khẩu là một vị trí thiên nhiên ở bất cứ nơi nào mà dòng sông dổ ra biển. Việt Nam có hàng chục cửa sông. Sông Mekong có chín cửa, tỉnh Quảng Trị có hai cửa Tùng và cửa Việt, Thừa Thiên có cửa Thuận An. Nhưng các cửa sông này không có cơ sở nào để thực hiện việc xuất nhập hàng hòa (trừ phi hàng chuyển lậu).
Cảng, theo nghĩa chính là sông nhánh; nơi sông lớn có dòng nước chảy qua mà thuyền có thể đi đươc. Cảng cũng là cửa biển. Sau này cảng được định nghĩa là bến tàu biển (VN Tự Điển Tín Đức), là một nơi được chọn để tàu thuyền đến cho người và hàng hóa được đưa lên bờ hay xuống thuyền. Nước ta có các hải cảng Cam Ranh. Sài Gòn, Hải Phòng... Sau này người ta dùng chữ cảng cho đường hàng không như phi cảng Tân Sơn Nhứt, phi cảng Đà Nẳng.
Những bến lớn (cảng) lớn có đủ cơ ngơi; từ nhà kho, máy móc bốc rỡ hàng hóa, có cơ sở tiếp liệu bảo trì cho tàu bè, văn phòng các công ty xuất nhập cảng với từng đoàn nhân công, , cơ quan chính phủ như Quan thuế, Cảnh sát, y tế, kiểm dịch ... Thương cảng (như Thương Cảng Sài Gòn) cũng là hải cảng, là nơi đủ rộng cho các loại tàu bè qua lại; là nơi để gửi hàng hóa ra ngoại quốc, và ngược lại, nhận hàng hóa từ ngoài vào sau khi qua những thủ tục nhiêu khê.
Chúng ta thấy khuynh hướng ghép hai chữ Hán và Việt đồng nghĩa: Bến Cảng, Cửa Khẩu! Đã bến, còn cảng; đã cửa còn khẩu. Cũng là cách nói để nghe êm tai hơn; như in ấn, sầu bị, lo âu.
Trong Tự Điển Việt Nam của ông Lê Ngọc Trụ và Lê Văn Đức đều có cả 4 chữ trên. Như thế, xét về bề thế, thì xuất cảng, nhập cảng hợp lý hơn. Chính quyền Việt Nam ngày nay gọi các cửa ải biên giới Mộc Bài ở Tây Ninh, Lao Bảo ở Quảng Trị, Hữu Nghị ở Lang Sơn, và Mống Cái ở Quảng Ninh là cửa khẩu, và các phi trường Nội Bài, Cam Ranh, Tân Sơn Nhứt, và Cát Bi... cũng là cửa khẩu.
Vì Việt Nam ngày nay dùng chữ “cửa khẩu’ chung cho cả ba ngành thủy, bộ, hàng không nên họ dùng các chữ xuất khẩu, nhập khẩu.
TDVN Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, trang 164 và 719
港 cảng (12n)
· 1 : Sông nhánh, ngành sông. Sông lớn có một dòng chảy ngang ra mà đi thuyền được, gọi là cảng.
· 2 : Hương cảng 香港 (Hongkong) gọi tắt là cảng.
口 khẩu (3n)
1 : Cái miệng.
4 : Con đường ra vào phải cần, các cửa ải đều gọi là khẩu, ngoài cửa
ô gọi là khẩu ngoại 口外.
Hình phép ngày xưa bị đầy ra ngoài cửa ô cũng gọi là xuất khẩu 出口 đều
theo nghĩa ấy cả.
Cơ Cấu 機 構 và Cơ Chế 機 制
Hỏi:Hiện nay, có sự dùng lầm lẫu giữa hai chữ cơ cấu và cơ chế. Khi nói về các thành phần của một tổ chức nào đó, thay vì dùng chữ “cơ cấu,’ người ta sính dùng hai chữ “Cơ Chế.”
Ví dụ: Trong một tập san mới đây của một tổ chức lớn, khi giới thiệu thành phần nhân sự của hội, người ta đã viết với tựa đề như sau: “Ba Cơ Chế của Hội Ái Hữu Đồng Hương X là Hội Đồng Chấp Hành, Hội Đồng Giám Sát, và Hội Đồng Cố Vấn…”
Việc dùng sai và bừa bãi này bắt nguồn từ trong nước Việt Nam và người ở hải ngoại lại vô tình học theo.
Xin ông vui lòng giải thích sự khác biệt.
Đáp:
Ba thành phần của tổ chức như ông vừa nêu là Cơ Cấu, không phải Cơ Chế.
Xin giải thích sự khác biệt như sau:
CƠ 機 là cái máy, là một hệ thống được ráp lại bởi nhiều thành phần..
CẤU 構 là cấu trúc, 彀 là thành phần tạo nên cỗ máy.
CHẾ 制 là thể lệ, qui định, là cách vận hành.
Theo tự điển Tín Đức trang 93, có cả một tá những nghĩa khác nhau; Xin dẫn ra hai định nghĩa khá gần gũi là:
1. CƠ là “máy, với nghĩa rộng là những gì có dường (sic) mối.” Đi đôi với chữ “Cơ” này là Cơ Khí, Động Cơ, Cơ Học, Phi Cơ, Cơ Hành.
Cơ Quan là cái then máy được định nghĩa là “bộ phận quan yếu trong một công cuộc gì.”
Ví dụ: Các chính đảng thường có một tờ báo để làm cơ quan. Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hoà và nhật báo Tiền Tuyến là hai cơ quan ngôn luận chính thức của Quân Lực VNCH.
2. Nghĩa thứ hai của CƠ là cái nền tảng. Ví dụ: các chữ Cơ Đồ, Cơ Ngơi, Cơ Nghiệp, Cơ Sở, Cơ bản.
Tra trong các tự điển Hoa Ngữ, Anh Ngữ, và Pháp Ngữ; chúng tôi ghi nhận ba định nghĩa tương tự nhau:
1. Theo Tự điển Thiều Chửu, CƠ (còn gọi là KY) 機 là cái máy, ráp lại bởi nhiều bộ phận để làm một việc gì đó. Cấu (彀), danh từ, là khuôn mẫu để tạo nên một thứ gì đó, Cấu (構), động từ, là xây nên, cấu tạo. Trong khi Chế (制) là những thể lệ, qui định để làm theo.
2. Tự điển Larousse của Pháp định nghĩa tương tự. CƠ là “cái máy ráp bởi các phần lệ thuộc vào nhau để làm được một việc ấn định.” (Dispositif constitué par des pièces assemblées ou reliées les unes aux autres et remplissant une fonction determinée). Ví dụ: entraînement, freinage, verrouillage, etc.
3. Trong Anh Ngữ, chữ Mechanism có ý nghĩa vừa về cấu trúc, vừa về cách vận hành.
Theo Merriam Webster và The Free Dictionary by Farlex, Mechanism là “một hệ thống nhiều bộ phận ráp với nhau để cùng vận hành trong một cỗ máy” (a system of parts working together in a machine; a piece of machinery). Đó là nói về cấu trúc. Các thí dụ là: apparatus, machine, appliance, tool.
Ngoài ra còn thêm định nghĩa “là một diễn trình tự nhiên hay được sắp xếp nhờ đó mà làm được việc gì đó” (a natural or established process by which something takes place or is brought about). Đây là nghĩa của sự vận hành; tức là sự tác động hỗ tương giữa những bộ phận (elements) của một cấu trúc. Đây là về Cơ Chế tức là cái nội dung, thể thức để điều hành một cỗ máy, một đoàn thể, tổ chức…
Trong lãnh vực chính trị, Cơ Cấu là các chính thể tức hình thái của chính quyền – quân chủ hay cộng hoà trong khi Cơ Chế có thể ví với chế độ tức nội dung, sự vận hành của chính quyền ra sao - độc tài hay dân chủ…
1. Cơ cấu 機 彀. Tổ chức của Chính phủ Hoa Kỳ gồm Hành Pháp, Quốc Hội Lưỡng Viện và Tối Cao Pháp Viện. Cơ cấu tổ chức của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ gồm có ba hội đồng là Hội Đồng Quản Trị, Hội Đồng Chấp Hành, và Hội Đồng Giám Sát.
Cơ Chế 機 制. Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa có một cơ chế chính trị độc tài so với nước Trung Hoa Dân Quốc có cơ chế dân chủ.
2. Về những vật cụ thể, chúng ta lấy thí dụ một chiếc xe hơi mà cơ cấu của nó gồm khung xe, thân xe, bánh xe, cỗ máy, vân vân; trong khi cơ chế sự vận hành thế nào, nổ máy bằng xăng hay dầu, hay dùng điện; sang số tay hay số tự động…
Hỏi:Nhân đây, xin ông nhắc lại cách dùng chữ cơ hội. Chúng tôi có đọc nhiều câu như: “ăn uống những thức ăn nhiễm độc, có cơ hội nhập viện cao.” Hoặc lài trên các cơ quan ngôn luận ở chính hải ngoại này, chúng tôi vẫn hay nghe người ta nói “hôm nay cơ hội mưa rất cao…”, trong phần dự báo thời tiết.
Đáp:
機會 Cơ Hội, cơ may, cơ duyên đều có nghĩa là cái dịp, nhưng nó mang tính chất tích cực, là điều tốt, mong đợi. Ví dụ: “Cháu học giỏi như thế có nhiều cơ hội được cấp học bổng vào các trường lớn.” Trong những trường hợp tiêu cực như trên, chỉ cần nói “ăn uống những thức ăn nhiễm độc, có thể mang bệnh, phải vào bệnh viện.”
No comments:
Post a Comment