Loading...

Saturday, June 10, 2017

Thủ lãnh Đinh Công Tráng

DanhNhânNướcViệt

Kính thưa quý thính giả, Khi nhắc đến phong trào “Cần Vương” của vua Hàm Nghi, trong đó có cuộc khởi nghĩa “Ba Đình”, chúng ta không thể không nhắc đến một vị lãnh tụ chống Pháp vào cuối thế kỷ 19 được người Việt tôn vinh là một anh hùng dân tộc. Trong tiết mục “Danh nhân nước Việt” tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài “Thủ lãnh Đinh Công Tráng” của Việt Thái qua giọng đọc của Tam Thanh để chấm dứt chương trình phát thanh tối hôm nay.
Đinh Công Tráng sinh năm Nhâm Dần (1842) tại làng Tràng Xá, huyện Thanh Liêm (nay là xã Thanh Tân, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam). Ông là một cựu chánh tổng tại Tràng Xá. Khi quân Pháp tiến hành công cuộc xâm chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2 vào năm 1882, Đinh Công Tráng đã tham gia chiến đấu trong đoàn quân của Hoàng Tá Viêm và phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đánh Pháp. Ông đánh bại tên Rivière, chỉ huy của Pháp tại trận Cầu Giấy ngày 19-5-1883.
Tháng 7 năm 1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, đại thần Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lên chiến khu Tân Sở (Quảng Trị), phát dụ Cần Vương kêu gọi toàn dân kháng chiến. Tháng 2 năm 1886, Đinh Công Tráng cùng với Trần Xuân Soạn và một số thân hào yêu nước như Phạm Bành, Nguyễn Khế, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước, Hoàng Bật Đạt, Lê Toại… chọn vùng đất thuộc 3 làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê thiết lập chiến khu. Vì đứng từ đình làng này có thể nhìn thấy ngôi đình của 2 làng kia, nên gọi là căn cứ Ba Đình.
Vào mùa mưa, căn cứ này trông như một hòn đảo nổi giữa cánh đồng nước mênh mông, tách biệt với các làng khác. Bao bọc xung quanh căn cứ Ba Đình là lũy tre dầy đặc và một hệ thống hào rộng, nên quân Pháp khó phát giác những hoạt động của nghĩa quân bên trong căn cứ. Ngoài ra, căn cứ còn xây một tường thành bằng đất cao 3 thước, rộng từ 8 đến 10 thước, trên đầu thành có thể đi lại được.
Từ căn cứ này, nghĩa quân có thể tỏa đi các nơi, kiểm soát các tuyến giao thông quan trọng trong vùng, tổ chức phục kích các đoàn xe tiếp tế của quân Pháp trên con đường Nam Bắc. Vì vậy nên quân Pháp quyết tâm đánh dẹp lực lượng Đinh Công Tráng.
Cuối năm 1886, quân Pháp tập trung lực lượng với 500 lính, có đại bác yểm trợ, chia làm 2 mũi dùi tấn công chiến lũy Ba Đình nhưng bị nghĩa quân đẩy lui. Sau trận này, quân Pháp chuyển sang chiến thuật bao vây.
Tháng 1 năm 1887, Pháp cử Đại tá Brissaud sang Việt Nam trực tiếp chỉ huy đánh phá chiến khu Ba Đình. Ngày 6/1/1887, Brissaud huy động 2500 quân lính chia làm 3 cánh quân cùng với pháo binh yểm trợ đánh vào căn cứ. Đinh Công Tráng cùng với nghĩa quân chiến đấu rất quyết liệt, nên các mũi tấn công đợt đầu của quân Pháp bị chận đứng.
Nhưng trước vũ khí tối tân và số lượng binh lính của quân Pháp, nghĩa quân bị bao vây và cô lập. Đinh Công Tráng cùng các thủ lãnh khác phá vây và rút lui về căn cứ Mã Cao vào đêm 20/1/1887.
Không thể để chiến lũy Ba Đình gây cản trở việc thôn tính Việt Nam, Bộ tư lệnh quân viễn chinh Pháp quyết định tăng cường đại bác, chiến hạm và bộ binh, quân số lên đến hơn 3500 người và giao cho Brissaud chỉ huy, quyết tâm công phá Ba Đình.
Lần này, Brissaud cho quân phun xăng dầu đốt cháy các lũy tre làng và cho pháo binh nã trọng pháo suốt ngày đêm, biến chiến lũy Ba Đình thành một biển lửa. Rạng sáng ngày 21/1/1887, chiến khu Ba Đình thất thủ, quân khởi nghĩa rút lên miền tây Thanh Hóa, sáp nhập với quân của Cầm Bá Thước. Một số khác theo Đinh Công Tráng rút về Nghệ An.
Về Nghệ An, Đinh Công Tráng định gây lại phong trào kháng chiến, nhưng đến ngày 5/10/1887 thì ông hy sinh trong một trận chiến tại làng Trung Yên, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
* * *
Một vị tướng Pháp tên là Mason nhận định về Đinh Công Tráng như sau: “Ông là người có trật tự, trọng kỷ luật, cương trực, thường nghiêm trị những thủ hạ quấy nhiễu dân, có chí nhẫn nại, biết mình, biết người, không bao giờ hành binh cẩu thả, giỏi lập trận thế”.
Lịch sử Việt ghi nhận hàng loạt cuộc khởi nghĩa kể từ khi quân Pháp nổ súng xâm chiếm nước Việt, đặc biệt là sau khi vua Hàm Nghi phát hịch Cần Vương, kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Thủ lãnh Đinh Công Tráng và chiến khu Ba Đình là một trong những cuộc khởi nghĩa trên toàn quốc, đã gây nhiều tổn thất cho quân Pháp.
Dĩ nhiên là cuộc khởi nghĩa, mặc dù anh dũng, nhưng vẫn thất bại trước vũ khí tối tân của quân Pháp. Thế nhưng nghĩa quân Đinh Công Tráng đã góp phần giữ vững ngọn lửa đấu tranh của dân tộc trong giai đoạn bị quân Pháp đô hộ. Nếu không có sự hy sinh của hàng trăm hay hàng ngàn nghĩa quân Cần Vương, trong đó có nghĩa quân Đinh Công Tráng, thì sẽ không có ngọn lửa yêu nước sau này trong Mặt trận Việt Minh hay Mặt trận Liên Việt trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954.
Nhưng đáng khâm phục hơn nữa là nghĩa quân Ba Đình đã hoàn toàn dựa vào sức dân, vào lòng yêu nước, chứ không cần phải vay mượn một chủ thuyết hay viện trợ vũ khí từ nước ngoài, mà các tiết lộ mới nhất cho thấy là đảng cộng sản VN đã chiếm được chính quyền là nhờ sự yểm trợ của Mao Trạch Đông, từ súng đạn cho đến nhân lực.
Chính vì thế, dù đảng CSVN đã cố gắng bôi xóa lịch sử suốt 70 năm qua, nhưng sự thật vẫn cho thấy rằng, các thế hệ sinh ra trong giai đoạn thực dân Pháp đô hộ VN, đã không tiếc máu xương để đứng lên cứu nguy dân tộc.
Những người như Đinh Công Tráng đã đổ mổ hôi, nước mắt và máu xương của mình trong mục tiêu giành lại nền độc lập cho nước nhà. Họ xứng đáng để được thế hệ con cháu vinh danh và nghiêng mình cảm phục vì sự hy sinh to lớn đó.
Nhưng điều đau đớn nhất là thế hệ Đinh Công Tráng có lẽ không bao giờ ngờ được rằng, thế hệ con cháu của họ đã đánh bại thực dân Pháp, nhưng lại dâng hiến mảnh giang sơn nước Việt cho kẻ thù phương Bắc dưới chiêu bài “16 chữ vàng và 4 tốt”!
Việt Thái

No comments:

Post a Comment