Monday, October 26, 2026

Nhật Tái Vũ Trang, CSVN Vẫn Ôm Bốn Không

Bình Luận

Từ nhiều thập niên nay, chế độ CSVN luôn đặt sự tồn vong của Đảng lên trên an ninh của Tổ quốc. Sự lệ thuộc ý thức hệ vào Bắc Kinh khiến Hà Nội tự trói tay mình, ngay cả khi chủ quyền biển đảo bị xâm phạm liên tục. Sự chuyển hướng quốc phòng của Nhật Bản là một ví dụ đối chiếu điển hình, cho thấy rõ cái giá mà Việt Nam đang phải trả vì lựa chọn của Đảng.

Trong chuyên mục BÌNH LUẬN hôm nay, kính mời quý thính giả theo dõi bài viết của THẾ VŨ, thành viên Ban Biên Tập đài ĐLSN, tựa đề "Nhật Tái Vũ Trang, CSVN Vẫn Ôm Bốn Không", sẽ do Nguyên Khải trình bày sau đây ...

Ngày 21 tháng 4 năm 2026, Nội các Nhật Bản chính thức bãi bỏ lệnh cấm xuất cảng vũ khí sát thương, một rào cản đã tồn tại suốt từ sau Đệ nhị Thế chiến. Từ nay, Tokyo được phép bán vũ khí cho 17 quốc gia đã ký hiệp định chuyển giao thiết bị và kỹ thuật quốc phòng với Nhật, trong đó có Nam Dương và Phi Luật Tân. Cùng lúc đó, khoảng 1.400 binh sĩ tác chiến Nhật tham dự cuộc tập trận Balikatan tại Phi Luật Tân.

Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1945 binh lính Nhật đặt chân lên đất Phi với tư cách quân đội tác chiến. Ngân sách quốc phòng của Nhật cũng tăng lên mức kỷ lục, vượt 9 ngàn tỷ Yen, tương đương khoảng 68 tỷ Mỹ kim và đạt chỉ tiêu 2% tổng sản lượng quốc gia.

Đối với Việt Nam, một quốc gia đang đối diện trực tiếp với áp lực của Trung Cộng trên Biển Đông, những biến chuyển này là những sự kiện quan trọng, đáng để cho chúng ta quan tâm.

Nhìn qua bề mặt, nhiều người sẽ nói Nhật Bản đang quân sự hóa trở lại. Nhưng điều đáng chú ý là cách Nhật thực hiện. Mỗi bước đi đều được tranh luận công khai tại Quốc Hội, được báo chí mổ xẻ và chịu sự phán xét của cử tri. Một quốc gia từng mang tiếng gây chiến, từng tự trói tay bằng Hiến pháp hòa bình, nay đổi hướng mà không cần che giấu điều gì với chính người dân của mình.

Lý do của sự thay đổi cũng rất rõ ràng. Tokyo tiên liệu rằng Hoa Kỳ sẽ giảm bớt sự hiện diện quân sự trong vùng. Chiếc dù nguyên tử đã che chở cho chính sách hòa bình của Nhật suốt tám thập niên có thể không còn vững chắc như trước nữa. Trong khi đó, Hải Quân Trung Cộng bành trướng không ngừng. Nhật Bản chọn cách tự lo cho mình trước khi quá muộn.

Nhưng Nhật không tự lo một mình. Nhật cùng Anh Quốc và Ý Đại Lợi phát triển phi cơ chiến đấu thế hệ thứ sáu. Nhật dự trù hợp tác đóng chiến hạm lớp Mogami với Úc Đại Lợi. Dư luận còn bàn tán chuyện Tokyo có thể chuyển giao tàu ngầm lớp Oyashio hoặc chiến hạm tối tân cho Nam Dương. Manila có thể nhận một số hộ tống hạm lớp Abukuma đã ngưng sử dụng. Lực Lượng Tuần Duyên Phi cũng đã được Nhật trang bị thêm nhiều tàu tuần tra từ khi Tổng thống Marcos lên cầm quyền.

Phi Luật Tân là trường hợp đáng để người Việt suy ngẫm. Cũng bị Trung Cộng lấn ép trên biển, nhưng Manila đã chọn cách công khai đứng về phía các nước dân chủ. Phi mời quân đội Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi, Pháp và Gia Nã Đại cùng tập trận trên lãnh thổ của mình. Ít ra, Bắc Kinh biết rằng Manila không đứng một mình.

Còn Việt Nam thì sao? Hà Nội đã ký hiệp định chuyển giao thiết bị và kỹ thuật quốc phòng với Tokyo từ tháng 9 năm 2021. Thế nhưng trong khi Manila và Jakarta bàn chuyện nhận chiến hạm, tàu ngầm của Nhật, người ta hầu như không nghe Hà Nội đề cập đến một kế hoạch tương tự. Khoản vay 348 triệu Mỹ kim năm 2020 để đóng sáu tàu tuần dương vẫn chỉ là viện trợ phát triển, không phải hợp tác phòng thủ.

Nguyên nhân nằm ở chính sách "bốn không" mà CSVN ghi trong Sách Trắng Quốc Phòng ban hành năm 2019. Không tham gia liên minh quân sự. Không liên kết với nước này để chống nước kia. Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự. Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Trên thực tế, đó là một lời cam kết với Bắc Kinh rằng Hà Nội sẽ không bao giờ đứng cùng phe với những quốc gia mà Trung Cộng coi là đối thủ.

Câu hỏi đặt ra là chính sách ấy bảo vệ ai? Nếu nhằm bảo vệ lãnh thổ, thì kinh nghiệm từ Hoàng Sa năm 1974, Gạc Ma năm 1988, và vô số vụ tàu đánh cá Việt Nam bị Trung Cộng đâm chìm, cho thấy sự nhún nhường chưa bao giờ làm Trung Cộng chùn tay. Nếu nhằm bảo vệ chế độ, thì mọi chuyện trở nên dễ hiểu. Đảng CSVN sợ rằng một liên minh với các nền dân chủ sẽ kéo theo những đòi hỏi về nhân quyền, tự do báo chí và pháp trị. Đảng cũng sợ mất chỗ dựa ý thức hệ cuối cùng là Bắc Kinh.

Nói cách khác, CSVN đặt sự an toàn của Đảng lên trên an ninh của Tổ quốc. Một quốc gia có hơn 100 triệu dân, có bờ biển dài hơn 3.200 cây số, lại tự trói tay mình trong khi kẻ láng giềng phương Bắc ngày càng hung hăng. Các nước trong vùng đang đan kết vòng tay hợp tác, còn Việt Nam, nước có tranh chấp đẫm máu nhất với Trung Cộng, lại đứng ngoài.

Nhật Bản đã cho thấy một bài học quan trọng. Một quốc gia từng bị ràng buộc bởi quá khứ vẫn có thể thay đổi chính sách khi hoàn cảnh đòi hỏi, miễn là giới lãnh đạo đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết và dám chịu trách nhiệm trước dân chúng. Nếu Hoa Kỳ thật sự giảm hiện diện trong vùng, những nước có đối tác vững chắc sẽ đứng vững, còn những nước tự cô lập sẽ chỉ còn biết trông vào lòng tốt của Bắc Kinh.

Tại sao một nước bại trận năm 1945 có thể mạnh dạn tái thiết khả năng tự vệ? Tại sao chính quyền Hà Nội, vẫn tự xưng là kẻ chiến thắng, lại không dám chọn bạn để giữ nước? Câu trả lời không nằm ở sức mạnh quân sự, mà ở bản chất chế độ.

Chừng nào quyền lợi của Đảng còn được đặt cao hơn quyền lợi dân tộc, chừng đó "bốn không" vẫn sẽ là bốn sợi dây trói buộc Việt Nam trước một Trung Cộng ngày càng tham vọng./.

 

No comments:

Post a Comment