Wednesday, April 29, 2026

Thi Đua Và Khen Thưởng

Bình Luận

Dân chúng Việt Nam ngày nay không còn xa lạ gì với những danh hiệu như ‘Anh hùng Lao động’, ‘Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác’, hay ‘Gia đình văn hóa’. Những tước hiệu đó, trên bề mặt, được trình bày như một hình thức vinh danh và khuyến khích nỗ lực cá nhân. Thế nhưng, đằng sau những tên gọi dài dòng và nhiều khi ngớ ngẩn đó là cả một mưu đồ xảo quyệt của tập đoàn cầm quyền.

Mời quý thính giả theo dõi bài BÌNH LUẬN của THẾ VŨ, thành viên Ban Biên Tập Đài ĐLSN, tựa đề “Thi Đua Và Khen Thưởng, sẽ do Vân Khanh trình bày sau đây ....

Quốc hội CS Việt Nam ngày 23 tháng 4 năm 2026 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Luật “Thi đua – Khen thưởng” với tỷ lệ đại biểu tán thành gần như tuyệt đối. Văn kiện này được giới thiệu như một bước chấn chỉnh tình trạng khen thưởng tràn lan, nặng hình thức và thiếu thực chất lâu nay. Nội dung sửa đổi nhấn mạnh đến việc điều chỉnh tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu, phân biệt rõ hơn giữa khen thưởng theo phong trào và khen thưởng theo lãnh vực chuyên biệt, ưu tiên đối với người lao động trực tiếp, cho các vùng, miền đang gặp khó khăn, đồng thời, trao thêm quyền cho chính phủ quy định chi tiết thủ tục và tiêu chuẩn. Luật mới dự trù sẽ có hiệu lực kể từ tháng 10 năm 2026, với lời giải thích là, (xin trích) “việc thi đua khen thưởng phải đi vào thực chất, phục vụ phát triển kinh tế xã hội” (hết trích).

Tuy nhiên, trong bản chất, vấn đề không nằm ở vài điều khoản sửa đổi, mà nằm trong cơ chế của cái gọi là “thi đua”. Ở Việt Nam, thi đua không chỉ là cách thức khuyến khích con người làm việc tốt hơn, mà còn là phương tiện tổ chức xã hội theo ý chí chính trị của đảng CSVN. Khi một hoạt động vốn thuộc lãnh vực tự nguyện, đạo đức và nghề nghiệp lại được luật hóa thành hệ thống toàn quốc, thì yếu tố áp đặt đã có mặt ngay từ đầu. Người dân, công chức, đoàn thể và cơ quan không chỉ làm việc theo bổn phận, mà còn phải chứng minh mình tham gia phong trào, hoàn thành chỉ tiêu, hưởng ứng các khẩu hiệu.

Điểm bất hợp lý thứ nhất là sự nhập nhằng giữa thành tích thực sự và thành tích trên giấy. Trong bộ máy hành chánh nặng hình thức, danh hiệu thường gắn với hồ sơ, sáng kiến, báo cáo tổng kết và những con số trình lên cấp trên. Khi không có cơ quan kiểm chứng độc lập, người xét thưởng và người được thưởng cùng nằm trong một hệ thống, thì tiêu chuẩn để đánh giá rất dễ bị uốn nắn. Báo cáo đẹp có thể che khuất sự thật. Sáng kiến được tô vẽ có thể thay thế thành quả cụ thể. Vì vậy, nhiều danh hiệu thi đua đã chẳng còn giá trị gì trong mắt dân chúng.

Khuyết điểm thứ hai là quyền khen thưởng tập trung từ trên xuống. Khi chính phủ và các cấp hành chánh nắm quyền quy định, xét duyệt, phân phối danh hiệu, thì khen thưởng dễ trở thành một hình thức ban phát. Trong một chế độ thiếu kiểm soát quyền lực, danh hiệu không chỉ ghi nhận sự đóng góp, mà còn có thể củng cố lòng trung thành. Người được khen không hẳn là người có công nhất, mà có khi là người biết thuận chiều, biết báo cáo, biết giữ đúng lập trường. Khi đó, khen thưởng không còn là vinh danh công bằng, mà là một thứ tem chính trị.

So với các xã hội dân chủ, sự khác biệt rất rõ ràng. Trong các nước dân chủ, việc vinh danh không cần một hệ thống luật thi đua bao trùm toàn xã hội. Công ty có thể thưởng nhân viên, trường học có thể vinh danh học sinh, nghiệp đoàn, hội đoàn, đại học, báo chí hay tổ chức dân sự có thể tự chọn người xứng đáng để tôn vinh. Nhà nước chỉ trao huân chương trong trường hợp đặc biệt, theo tiêu chuẩn công khai và chịu sự soi xét của dư luận. Giá trị phần thưởng không đến từ mệnh lệnh, mà từ niềm tin xã hội, uy tín tổ chức trao thưởng, và khả năng kiểm chứng thành tích.

Trong thể chế độc tài thì khác. Thi đua khen thưởng thường gắn với mục tiêu chính trị. Danh hiệu trở thành dấu hiệu của sự đúng đường lối. Phong trào thi đua biến đời sống xã hội thành một sân khấu hưởng ứng. Từ nhà trường, công sở, nhà máy đến khu phố, đâu đâu cũng có khẩu hiệu, liệt kê chỉ tiêu, bình bầu, tổng kết. Người dân không còn phân biệt rõ đâu là bổn phận nghề nghiệp, đâu là thành tích thật, đâu là sự trình diễn để vừa lòng cấp trên.

Một hệ quả tai hại là tâm lý chạy theo danh hiệu. Khi danh hiệu gắn với quyền lợi, lý lịch, thăng tiến hoặc sự an toàn trong hệ thống, con người sẽ tìm cách đạt danh hiệu bằng mọi giá. Báo cáo được làm đẹp. Sáng kiến được thổi phồng. Thành tích tập thể được phân chia theo mối lên hệ. Những người làm việc âm thầm, lương thiện, không biết tô vẽ, nhiều khi bị bỏ quên. Luật “Thi đua – Khen thưởng” sửa đổi lần này mặc dù có đề cập đến thực chất, nhưng vẫn giữ nguyên cái khung của những “phong trào” trước đây. Vì vậy, khi nền móng không thay đổi, chữ mới trong luật khó tạo ra sự thay đổi thật sự.

Nhưng điều đáng lo hơn cả là di sản lịch sử của hai chữ “thi đua” trong chế độ cộng sản. Trong chiến tranh, thi đua không chỉ là làm nhiều hơn hay sản xuất giỏi hơn. Nó còn được dùng để huy động bạo lực. Những khẩu hiệu như thi đua giết giặc đã biến việc giết người thành một thành tích được nêu gương. Trong cơn say ý thức hệ, mạng sống con người bị biến thành con số đo lương công trạng. Ai tiêu diệt được nhiều đối phương hơn thì được ca ngợi nhiều hơn. Đó là một sự đảo lộn ghê rợn của đạo lý.

Tóm lại, việc Quốc hội CSVN thông qua luật sửa đổi “Thi đua – Khen thưởng” lần này chỉ là sự thay đổi về thủ tục, nhưng không tạo khác biệt gì về bản chất. Khen thưởng trong thể chế độc tài toàn trị chỉ là một phương tiện để củng cố quyền lực và tăng cường kiểm soát của tập đoàn cầm quyền./.

 

No comments:

Post a Comment