Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó…
Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về các chữ:
Giao Lưu / Đăng Ký, Đăng Bạ, Đăng Bộ - Ghi Danh / Linh Kiện-Thiết Bị
Giao Lưu
Đỗ Văn Phúc
Chữ ‘giao lưu’ từ nhiều năm nay được sử dụng rất bừa bãi. Nào là “chúng tôi từ xa về dự hội, tối nào chị em cũng giao lưu suốt đêm...” Lại thấy trên FaceBook có lời kêu gọi kết bạn như sau: “Chào cả nhà trong hội người Việt sống tại Mỹ. Em là người Việt, quê tại Đồng Tháp. Tham gia nhóm với mong muốn kết bạn, giao lưu cho vui, học hỏi thêm kinh nghiệm sống.” Mấy hôm trước đây, có một bản tin trên báo VN, viết rằng: “Hai người ‘tham gia’ giao thông; gây tai nạn và ‘giao lưu võ thuật’ với nhau.” À thì ra lúc này ngoài chữ “tác động vật lý,” người ta còn sáng tạo thêm bốn chữ “giao lưu võ thuật” để nói việc đánh lộn!
Tại sao dùng chữ ‘giao lưu’ trong những trường hợp trên là kỳ cục, nếu không nói là sai lầm.
Giao 交: Qua lại với nhau. Giao điểm là nơi gặp, giao lộ là nơi các con đường gặp nhau. Lưu 流: ngoài nghĩa là dòng: dòng điện, dòng nước, dòng học thuật (Cửu Lưu 九流 trong văn học Trung Hoa), dòng người (như thanh lưu 清流 dòng trong, trọc lưu 濁流 dòng đục; thượng lưu 上流 dòng trên có học thức đức hạnh, hạ lưu 下流 dòng dưới ngu si).
Giao lưu 交流: thuật ngữ trong vật lý nói về dòng điện tuần hoàn thay nhau (Dòng điện xoay chiều); cũng như giao thoa là phần mà hai vật thể lẫn vào nhau. Như thế, với nghĩa chữ Lưu, chúng ta thấy Giao Lưu có thể dùng khi nói tới sự trao đổi qua lại giữa những trào lưu như văn hóa, văn học, nghệ thuật.
Nhưng,
Trong mối quan hệ giữa người với nhau, có tình cảm trao đổi thì có chữ giao tiếp, giao du, giao cảm (sympathy); bạn bè gặp nhau chuyện trò thì nên gọi là giao du, giao tiếp; có thêm vui chơi ca hát, ăn uống thì giao hoan; yêu thương nhau, thèm khát về xác thịt thì có thể đi đến giao hợp, giao cấu. Thù ghét nhau thì giao chiến, giao tranh... Xa hơn, trong thể thao thì giao đấu; trao đổi văn hóa, thương mại thì giao dịch, giao hoán. (exchanger). Còn biết bao nhiêu ‘giao’ khác như: giao bái (vợ chồng mới cưới làm lễ bái nhau), giao bôi, giao cảm, binh, giao chiến, giao đấu, giao dịch, giao du, giao hữu, giao tế, giao thiệp, giao hiếu, giao hòa, giao hòa, giao cấu, giao hợp, giao hoán, giao ước, vân vân.
Vì vậy, các vị bên VN, nếu không rành nghĩa chữ gốc Hán, thì nên dùng chữ Việt giản dị vừa thích hợp và dễ nghe. Bạn bè thì giao du, giao tiếp, gặp nhau trò chuyện/ chuyện vãn/ vui đùa/ trao đổi/ bàn luận... đừng có giao lưu nữa. Khổ quá!
Đăng Ký, Đăng Bạ, Đăng Bộ - Ghi Danh
Tuy cùng có nghĩa là ghi/chép vào sổ, nhưng cách dùng có khác nhau:
· Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh trang 212 có ghi Đăng Ký là ghi chép vào sổ (noter, enregistrer (Pháp)).
· Tự Điển Việt Nam của Khai Trí Tiến Đức trang 171: Đăng là viết lên, chép lên; Đăng Bạ là biên vào sổ; Đăng Ký là biên chép lên, vd: Đăng Ký vào sổ điền thổ.
· Việt Hán Tự Điển của Huỳnh Minh Xuân, trang 243. Đăng Bạ (không ghi thí dụ); Đăng Ký. Ví dụ: đăng ký cư trú, ngụ cư, đăng ký tờ khai gia đình.
· Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ, trang 422. Đăng ký là vô sổ, ghi vào nhật ký. Ví dụ: Đăng ký một lá đơn. Đăng bạ: Vô sổ, ghi vào sổ nhà nước để chính thức hóa và đóng thuế. Ví dụ: Đăng bộ (Bạ) một khế ước, một giấy bán nhà.
Ở miền Nam, chúng ta dùng chữ ‘ghi danh’ dịch từ chữ Hán “ký danh” trong các trường hợp nộp đơn để xin ghi tên mình vào một chương trình nào đó, như:
- Ghi danh theo học lớp Việt Văn.
- Ghi danh dự thi trung học.
Nhưng lại dùng chữ ‘đăng ký, đăng bạ, đăng bộ; khi phải khai báo với cơ quan chính quyền trong các trường hợp:
- Những xe mới mua, phải đến Sở Lộ Vận để đăng bạ.
- Đăng ký quyền sở hữu căn nhà với Sở Địa ốc.
- Trẻ mới sinh phải đến Sở Hộ tịch để đăng bộ, làm giấy khai sinh.
Linh Kiện, Thiết Bị
Một bạn trẻ hỏi về vài chữ mà anh nghe lạ tai như ‘linh kiện, thiết bị...’
Có khá nhiều thuật ngữ trong vài lãnh vực, nhất là khoa học kỹ thuật; ít thông dụng trong đời sống thường ngày. Chúng tôi có nhắc anh rằng không nên sợ dùng sai mà quá dè dặt. Cuộc sống càng ngày càng phức tạp, thêm nhiều phát minh mới; người ta phải nghĩ cách đặt thêm chữ mới để dùng. Vấn đế là cách đặt chữ, cách ghép chữ có phù hợp hay không mà thôi; và khi sử dụng, có đúng vào trường hợp của từng sự việc, sự vật hay không.
Nói thí dụ, ngày xưa nước ta chỉ có xe trâu, xe bò, xe ngựa, hay xe kéo. Khi tiếp xúc với văn minh Tây phương, họ đem vào chiếc xe hai bánh, có bàn đạp kéo dây xích (chain); thế là cha ông chúng ta đặt ra chữ ‘xe đạp.’ Nghe có lý nhỉ! Kế đó là xe ô-tô; rồi xe lửa, xe điện, xe buýt, xe ca, xe lô, xe tắc xi, xe tải, xe xích lô, xe lô bồi... Có chữ thì gọi theo cách vận hành (xe lửa, xe điện); có chữ thì phiên âm nguyên từ không biết dịch thế nào (automobile, car, cyclo, bus, taxi). Có thứ thì đặt tên không chính xác. Ví dụ: Automobile ra đời vào cuối thế kỷ 19, phải đến gần giữa thế kỷ 20 mới du nhập vào Việt Nam. Nó chạy bằng xăng chứ có chạy bằng hơi nước đâu, mà gọi là xe hơi thì cũng lạ! Xe motorcycle thì gọi là xe gắn máy: xe nào mà lại không có cái máy gắn vào để vận hành, có riêng gì cái motorcycle đâu?
Từ hàng chục năm nay, khoa học tiến nhanh vào thời đại điện tử, phát sinh hàng ngàn thuật ngữ mới rất khó dịch chính xác. Chúng ta phải chọn một trong các cách: hoặc là giữ nguyên từ, hoặc phải dịch sao cho sát với công dụng của nó. Có thể ban đầu nghe hơi lạ, nhưng phải đành thế.
Chữ Linh Kiện chúng ta thường nghe trong’ ‘linh kiện điện tử’ do chữ ‘linh’零 là lẻ tẻ, vặt vãnh, không xếp vào chủng loại nào; ‘kiện’ 件 là món (đồ), thứ (đồ). Vậy ‘linh kiện’ là những vật linh tinh; gần như ‘phụ kiện, phụ tùng.’ Ví dụ: Cái board, các con chip, resistor, transistor, capacitors đến cái memory card, video card, hard drive, cái quạt, bàn phím, con chuột... là các linh kiện điện tử.
‘Thiết’ 切 là cần kíp (urgent, necessary) như ‘cần thiết, thiết yếu, thiết thực…’. ‘Bị” 備 là dự sẵn, như dự bị (reserve), trang bị (supply). Thiết bị là sự chuẩn bị những thứ cần thiết cho những hoạt động nào đó. Ví dụ: Thiết bị trong quân đội là xăng dầu, đạn dược.
Dưới đây là vài định nghĩa hai chữ Giao và Lưu theo Tự Điển Hán Việt của cụ Thiều Chửu:
交 giao (6n)
· Chơi. Như giao du 交遊 đi lại chơi bời với nhau, tri giao 知交 chỗ chơi tri kỷ, giao tế 交際 hai bên lấy lễ mà giao tiếp với nhau, giao thiệp 交涉 nhân có sự quan hệ về việc công, bang giao 邦交 nước này chơi với nước kia, ngoại giao 外交 nước mình đối với nước ngoài.
· Liền tiếp. Như đóng cây chữ thập 十, chỗ ngang dọc liên tiếp nhau gọi là giao điểm 交點.
· Có mối quan hệ với nhau. Như tờ bồi giao ước với nhau gọi là giao hoán 交換, mua bán với nhau gọi là giao dịch 交易.
· Cùng. Như giao khẩu xưng dự 交口稱譽 mọi người cùng khen.
· Dâm dục, giống đực giống cái dâm dục với nhau gọi là giao hợp 交合, là giao cấu 交媾, v.v.
流 lưu (9n)
· Nước chảy, nước chảy tự nhiên, cho nên cái gì nó tự nhiên đun đi cũng gọi là lưu hành 流行.
· Dòng nước, nước chảy chia ra các ngành gọi là lưu.
· Dòng, riêng làm một dòng gọi là lưu. Như học thuật chia ra cửu lưu 九流 (chín dòng) : (1) nhà Nho, (2) nhà Ðạo, (3) nhà Âm Dương, (4) nhà học về pháp, (5) nhà học về danh, (6) nhà Mặc, (7) nhà tung hoành, (8) nhà tạp học, (9) nhà nông.
· Phân biệt từng loài cũng gọi là lưu. Như thanh lưu 清流 dòng trong, trọc lưu 濁流 dòng đục, thượng lưu 上流 dòng trên có học thức đức hạnh, hạ lưu 下流 dòng dưới ngu si. Quan phẩm cũng chia ra lưu nội 流內 dòng ở trong, lưu ngoại 流外 dòng ở ngoài. Chưa được phẩm cấp gì gọi là vị nhập lưu 未入流.
· Chuyển động, cái gì tròn trặn chuyển vần được không có động tác gọi là lưu. Như lưu động 流動, lưu chuyển 流轉, lưu lợi 流利, v.v. Trôi giạt.
No comments:
Post a Comment