Thưa quý thính giả, để kết thúc chương trình phát thanh tối nay, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng”, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó…
Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về các chữ Chia Sẻ hay Chia Xẻ? Sử Dụng hay Xử Dụng? Là vài trường hợp mà đa số người Việt dùng lẫn lộn, gây tranh cãi nhiều. Sẻ hay Xẻ, Sử hay Xử? ai cũng có lý của mình. Có thể nói số người viết Xẻ , Xử cũng khá đông.
Chia Sẻ hay Chia Xẻ?
Mới đây, một độc giả từ Pháp cũng đưa ra một bài của ông Hoàng Tuấn Công, trong đó các học giả bên Việt Nam tranh cãi nhau về hai chữ “sẻ” và “xẻ.” Một ông Lê Đức Luận, đuợc giới thiệu là nhà Ngôn Ngữ Học có học vị Phó Giáo Sư Tiến Sĩ của Đại Học Đà Nẵng thì cho rằng “chỉ có “chia XẺ” chứ không có “chia SẺ.” Trong một bình luận trên Facebook, ông viết: “Viết sai chính tả là chuyện ai cũng vấp ít nhất một lần. Người miền Bắc có cái sai mà bây giờ thành đúng, như màu thành mầu, tàu thành tầu, xẻ thành sẻ, trong chia sẻ và mặc nhiên thừa nhận.” Và ông lý luận: “Chia tức là phải xẻ ra, còn sẻ không có nghĩa gì cả. Chia mà không xẻ ra thì không chia được.” (sic)
Kế đó là ông Nguyễn Văn Khang, với các học vị Giáo Sư Tiến Sĩ, Nhà Biên Soạn Từ Điển thì coi cả hai chữ “chia sẻ và chia xẻ chỉ là là một từ với hai dạng chính tả đều được chấp nhận.”(sic)
Đã có một lần trong quá khứ, tôi đã phân tích sự khác nhau giữa hai chữ “sẻ” và “xẻ.”
Để công bằng, tôi xin phép lấy các định nghĩa từ cuốn Tự Điển Việt Nam của Hội Khai Trí Tiến Đức (xuất bản trước 1975 ở miền Nam), Hỏi Ngã Chánh Tả Tự Vị (do Tạp Chí Dân Văn giới thiệu), Sổ Tay Chính Tả Tiếng Việt (do Hùng Sử Việt xuất bản năm 2017), Từ Điển Việt Anh (do Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội xuất bản năm 1986).
Sẻ: San chia ra, sẻ bát cơm làm hai. Nhường cơm sẻ áo, chia ngọt sẻ bùi. (TĐTĐ, trang 488)
Xẻ: Bổ dọc ra, xẻ gỗ, xẻ tà áo (TĐTĐ trang 651)
Sẻ: sẻ áo chia cơm, bắn sẻ, chia sẻ, chim sẻ, san sẻ, ... (HNCTTV, trang 84)
Xẻ: Cắt, mổ xẻ gỗ, xẻ mương, mổ xẻ, xẻ rãnh, chia xẻ. (HNCTTV, trang 106)
Sẻ: Cắt ra từng phần rồi chia với nhau. Chia sẻ, san sẻ, nhường cơm sẻ áo. (STCTTV trang 374)
Xẻ: cưa cắt làm hai, xẻ cây, xẻ gỗ, xẻ ván đóng thuyền, xẻ thịt. (STCTTV trang 434)
Sẻ: Divide, parcel out, share out, Chia vui sẻ buồn: share with somebody in his joy and sorrow. (TĐVA trang 705)
Xẻ: Cleave, split, cut, saw up… (TĐVA trang 972)
Trong một trang web về Từ điển Việt Nam, cũng thấy định nghĩa chữ “sẻ” và “xẻ” như sau:
Sẻ: Lấy ra, đổ ra một phần ; chia ra, nhường cho một phần : Sẻ mực; , Sẻ bát nước đầy làm hai ; Sẻ thức ăn cho người khác.
Xẻ: 1. Cưa ra thành những tấm mỏng theo chiều dọc. Xẻ ván. Thợ xẻ. 2. Chia, cắt cho rời ra theo chiều dọc, không để liền. Áo xẻ tà. 3. Bổ. Xẻ trái mít. 4. Đào thành đường dài, thường cho thông, thoát. Xẻ núi mở đường. Xẻ rãnh thoát nước.
Tiếc là không có nhiều thì giờ để tham khảo nhiều nguồn trên web. Tuy nhiên cũng coi là tạm đủ, khi chúng ta có định nghĩa từ cả nhiều phía, miền Nam trước 1975, miền Bắc Cộng Sản và hải ngoại.
Như thế, chữ “xẻ” xem ra cũng khá đồng nghĩa với chữ “sẻ” khi nói về động tác cắt ra, mổ ra. Nhưng xin lưu ý ở đây, trong các định nghĩa trên, chúng ta hình dung động tác “xẻ” là bổ ra theo chiều dọc của một vật thể. Ngoài ra còn chữ “chẻ” cũng đồng nghĩa với “xẻ”. Những thí dụ cụ thể là: xẻ gỗ (có thể dùng cưa hay búa, chẻ dọc cây gỗ ra làm hai, rồi làm tư…), dùng kiếm xẻ hai tên địch… Nhưng khi muốn nói đến việc chia theo chiều ngang, thì động từ là “cắt,” “sẻ” chứ không thể là “xẻ.” Trong Tự Điển Việt Nam của Tiến Đức trang 631 cũng có chữ “vẽ” là tách ra. Chúng tôi còn nhớ, khi ăn cá, người ta thường nói “vẽ con cá ra ăn.” Không rõ chữ “vẽ” theo nghĩa này có thông dụng ở cả ba miền hay không chứ ở miền Trung thì họ nói trại thành “phẽ.”
Về thí dụ “chia sẻ” ở trang 106 của cuốn Hỏi Ngã Chính Tả Tự Vị, chúng tôi đã gửi thắc mắc đến ông Lý Trung Tín, chủ nhiệm Tạp Chí Dân Văn, là người giới thiệu cuốn tự vị để xem tác giả có sự nhầm lẫn nào hay không, vì nó mâu thuẫn với định nghĩa ở trang 84 trong cùng cuốn sách.\
Sử Dụng hay Xử Dụng?
Giáo sư Trần Ngọc Ninh, trong cuốn Ngữ vựng tiếng Việt đầu tiên (Westminster, CA, 2017), nơi trang 6, cho biết theo nhận xét của ông, “trong số các nhà văn nhà báo, có chừng 50 phần trăm viết ‘sử dụng’ và áng 50 phần trăm viết ‘xử dụng’.” Nhân thấy hai phía “tương đương,” Gs. Ninh không tỏ ra thiên về phía nào. Ông dẫn lời một nhà làm tự điển, “thói quen là vua trong ngôn ngữ” (sách đã dẫn, cùng trang).
Khi cho học sinh viết chính tả, một cô giáo dạy Việt ngữ không được nhiều tự do như thế mà cần có một ý niệm rõ rệt, dứt khoát hơn. Giữa hai cách viết “xử dụng” và “sử dụng,” nên hướng dẫn học sinh chọn cách nào, và tại sao lại nên chọn như thế ? Bài này được viết theo đề nghị của hai người bạn. Một người bạn trẻ, dạy tiếng Việt ở một Trung tâm Việt ngữ. Người bạn thứ hai lớn tuổi hơn, một bác sĩ y khoa quan tâm tới đất nước và những vấn đề mang tính cách ngôn ngữ, văn hóa, nêu câu hỏi sau khi đọc xong cuốn sách vừa kể của bác sĩ Trần Ngọc Ninh.
Trước hết, “xử” (viết với X) là một từ khá thông dụng trong tiếng Việt. Chúng ta nói “phân xử, xét xử, khu xử, xử trí, xử thế…” Xử cũng chỉ lối sống của một kẻ sĩ ở ẩn, không chịu ra làm việc đời (Xử sĩ, Xưa nay xuất xử thường hai lối—Nguyễn Công Trứ). “Xử nữ” cũng đồng nghĩa với “trinh nữ.” Trong khoa chiêm tinh Tây phương, cung Virgo trong Zodiac được dịch sang tiếng Pháp là Vierge và tiếng Việt là Xử nữ. Nhân từ “xử nữ,” có thêm từ Hán Việt “xử nữ mạc” (màng trinh). Vì sự thông dụng của từ “xử,” khi cần diễn ý “xử dụng/sử dụng” với nghĩa “sai khiến, dùng vào một việc gì,” nhiều người đã viết “xử dụng” (với X) một cách tự nhiên. Đó cũng là lựa chọn của người viết những dòng này trong gần suốt thời gian ở Trung học, nghĩ rằng mình đã viết đúng.
Hai chữ “xử” và “sử” đều là từ Hán Việt, có gốc chữ Hán. Nếu từ “xử” trong “phân xử, xử thế, xuất xử” có gốc chữ Hán là 處 (cũng được đọc là “xứ” như trong “xứ sở, xuất xứ”), thì từ “sử” với nghĩa “sai khiến” có gốc từ chữ 使. Trong Hán văn, để diễn ý “sai khiến, dùng vào một việc gì,” người ta viết 使 hay 使用 (“sử” hay “sử dụng”).
Trong các tự điển Khang Hi và Từ Hải (biển các từ), chữ 使 được cho biết là 从音史“tòng âm sử” (theo âm “sử,” phát âm như chữ "sử" 史với nghĩa lịch sử). Trong The Pinyin Chinese-English Dictionary do Gs. Wu Jingrong (吳景榮 = Ngô Cảnh Vinh) thuộc Viện Ngoại ngữ Bắc Kinh làm chủ biên, thì chữ 使 có âm là “shĭ” (“shi,” phát âm theo thượng thanh).
Trong các tự điển Hán-Việt, chữ ấy được ghi âm là “sử” (viết với S, giống chữ “sử” trong “lịch sử”):
Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu: trang 21; Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh: trang 213; Hán Việt Tự Điển của Trần Trọng San: trang 20; Tự Điển Hán Việt của Trần Văn Chánh: trang 152; Từ lâm Hán Việt Tự Điển của Vĩnh Cao và Nguyễn Phố: trang 62.
Trong các tự điển Việt ngữ được coi là “có thẩm quyền,” hai chữ “sử dụng” cũng được viết với S:
Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ: trang 1321, quyển Hạ; Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của: trang 312, quyển 2.
Để làm thí dụ, xin được trình bày phóng ảnh những đoạn về cách viết chữ ấy trong các tự điển của Trần Trọng San (hình phải) và Vĩnh Cao & Nguyễn Phố (hình trái) và của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (hình phải) trong ảnh dưới:
Nhà biên soạn tự điển Trần Văn Chánh còn dùng từ “sử dụng” trong lời văn của chính ông:
“Sử” với nghĩa “sai khiến” là một từ khá thông dụng trong cổ văn. Trong Luận Ngữ, Khổng tử từng trả lời một câu hỏi của Lỗ Định công về liên hệ vua tôi như sau: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” (vua sai khiến bề tôi với lễ, bề tôi phụng sự vua với lòng trung): (Luận ngữ, Thiên “Bát dật,” tiết 19).
Ở một đoạn khác trong Luận Ngữ, Khổng tử khuyên những người trị nước muốn dùng sức dân (bắt dân làm những việc tạp dịch) phải “sử dân dĩ thời” (sai khiến dân đúng thời, ngụ ý tránh những lúc dân đang bận vì các việc cấy gặt, đồng áng): (Luận ngữ, thiên “Học nhi,” tiết 5).
Trong một bài Đường thi khá được phổ biến (bài “Thục tướng,” vịnh Thừa tướng nhà Thục Hán), Đỗ Phủ bày tỏ niềm thương tiếc Khổng Minh bằng hai câu:
出師未捷身先死
長使英雄淚滿襟
Xuất sư vị tiệp thân tiên tử
Trường sử anh hùng lệ mãn khâm
(Ra quân chưa thắng thân đã thác
Khiến cho khách anh hùng nước mắt đầy vạt áo)
Tất cả các nhà dịch thơ chúng ta biết đều viết chữ “sử” ấy với S:
Trích của cụ Trần Trọng Kim
Khi phổ biến bài "Thục tướng" trên Net, tất cả các trang mạng được nhiều người biết tới cũng dùng S để viết chữ “sử”:
Trên thivien.net:
Trên hoasontrang.us:
http://www.hoasontrang.us/tangpoems/duongthi.php?loi=145
Trên saimonthidan.com:
http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=7297
Chữ “sử” 使 trong “quân sử thần dĩ lễ,” “sử dân dĩ thời,” “trường sử anh hùng…” chính là chữ “sử” 使 trong động từ “sử dụng”. Theo các tự điển, chữ ấy cùng âm với chữ “sử” 史 trong lịch sử, sử ký... Khi ta dùng S để viết “lịch sử, sử ký, Quốc sử quán, sử quan, sử gia…,” đương nhiên ta cũng nên dùng S để viết chữ “sử” trong “sử dụng.”
Trong Việt ngữ, khi dùng làm động từ, chữ ấy được đọc là “sử,” nhưng khi dùng làm danh từ, sẽ được đọc là “sứ.” Chúng ta có từ “sứ giả” (người được sai đi). Từ đó có thêm những từ “đi sứ, sứ thần, sứ quán, ông Đại sứ…” Vì cùng một gốc chữ Hán 使, cách đọc những chữ ấy phải giống nhau. Không lẽ chúng ta viết “sứ giả, sứ thần” với chữ S nhưng lại đổi dùng X để viết “sử dụng” thành “xử dụng”?
Hiện nay số người viết “sử dụng” có vẻ mỗi ngày một nhiều hơn. Đó là lối viết được ghi trong các tự điển.
No comments:
Post a Comment