Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó…
Trong chương trình hôm nay, chúng
ta thử tìm hiểu về các chữ: Diễn Hành/Diễu Hành; Sơ Tán/Di Tản
Diễu hành hay Diễn hành?
Từ rất lâu, nhiều vị cho rằng chữ Diễu Hành, Diễu Binh là chữ của Việt Cộng, vì chỉ thấy do người miền Bắc sử dụng, còn ở miền Nam phải là Diễn Hành, Diễn Binh. Chúng tôi cũng từng có phản ứng khó chịu khi lần đầu thấy những chữ Diễu Binh. Diễu Hành này.
Trước khi đi vào phân tích, chúng tôi xin nói sơ về vài chữ có liên quan:
- Duyệt binh,閱兵, hay duyệt hàng quân (review the troops), là hành vi của cấp chí huy đi duyệt qua hàng quân đang đứng nghiêm chỉnh theo đội hình. Duyệt hàng quân có thể đi xe hay đi bộ; tùy theo mức độ đông hay ít, lớn hay nhỏ, Ví dụ trong buổi lễ Quốc Khánh của VNCH trước đây, các đơn vị quân đội sắp hàng tề chỉnh ở vị trí ấn định dọc Đại Lộ Cường Để, Thống Nhất. Buổi lễ bắt đầu bằng cuộc duyệt binh; vị nguyên thủ quốc gia sẽ cùng vị tướng chỉ huy buổi lễ đứng trên xe mui trần chạy chậm dọc theo hàng quân rồi mới trở về an vị ở khán đài. Trong những lần tiếp đón quốc khách, vị chủ nhà cùng ngang cấp sẽ đứng ở chân cầu thang máy bay, đón vị quốc khách rồi cùng bước theo vị chỉ huy quân lễ, duyệt hàng cờ và đội quân danh dự dàn chào.
- Diễn hành 演 行 (parade): là hành vi của nhiều đoàn người tuần tự đi trên đường với mục đích biểu dương hay vui chơi. Diễn hành có thể trong cuộc lễ hội như diễn hàng Mardi Gras ở New Orlean, Carnival ở Sao Paulo, Brazil, Văn Hóa Á Châu ở New York; Rose Parade ở Pasadena, California.
- Diễn binh 演 兵 (military parade): Nhưng khi cuộc diễn hành do những đoàn quân, thì được gọi là Diễn Binh nhằm mục đích phô trương lực lượng.
Trong tự điển Việt Nam trước đây có cả chữ Diễn Binh và Diễu Binh.
DIỄU: Chữ Diễu 繞 này thấy trong Tự điển của Linh mục Antôn Trần Văn Kiệm nghĩa là lượn một vòng, đi diễu phố, diễu hành, diễu binh; và Diễu (𠰉, 𠴕) có nghĩa diễu cợt! Hán Việt Tự Điển của ông Huỳnh Minh Xuân trang 211, do cơ sở Đại Nam xuất bản từ thời VNCH định nghĩa: Chạy chung quanh: Sự diễu đàn, diễu phố, diễu binh.
DIỄU: Trong Việt Nam Tự Điển của Lê Ngọc Trụ, ở trang 373 có chữ Diễu định nghĩa là: Rễu, lượn quanh, qua lại, đi nhởn nhơ. Chạy diễu. Chữ Diễu Binh được định nghĩa là “Diễn binh, điều khiển binh lính mang súng đi biểu diễn (ví dụ: Đi coi diễu binh).”
Như thế, ông Lê Ngọc Trụ đã đồng nghĩa chữ Diễu Binh và Diễn Binh (Động từ: Diễn binh, điều khiển binh lính mang súng đi biểu diễn. Đồng thời ở trang 371 có chữ Diễn Binh với định nghĩa “phô bày lực lượng binh bị và vũ khí trong một cuộc lễ.”
DIỄU : Chạy xung quanh, Sự diễu đàn, diễu quân (Tự Điển Việt Nam của Tín Đức Thư Xã, trang 153).
Như thế, có thể xác định rằng chữ Diễu không chỉ giới hạn trong nghĩa đi vòng vòng vui chơi, mà còn có thể dùng trong trường hợp Diễu Binh. Diễu Binh, Diễu Hành, hay Diễn Binh, Diễn Hành đều có thể sử dụng, tùy theo ý thích và thói quen.
Khách quan mà nói, khi nghe chữ Diễu, ai cũng nghĩ rằng nó là sự đùa cợt (theo Tự Điển Tín Đức trang 221), không mang tính chất nghiêm trang. Vì thế, chúng tôi đề nghị dùng chữ Diễn Binh cho trang trọng. Còn ai sính dùng chữ diễu binh, diễu hành, thì nên tôi trọng sự lựa chọn của họ, vì hai chữ này cũng không sai.
Đã có thời người ta ngại dùng các chữ ‘giải phóng, cải tạo...’ Bài hát “Cờ bay” trong đó có câu “Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng” đã bị đồi lời thành “chào quê hương đổi mới...” Rồi hiện nay, ở hải ngoại người ta cũng tự ý sửa câu đầu của bài Quốc ca, từ “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng” thành “này công dân ơn, đứng lên đáp lời sông núi.” Theo chúng tôi, cả hai trường hợp đều sai. Không ai có quyền sửa lời ca của một nhạc sĩ, và càng không thể sửa lời bài quốc ca mà Hiến Pháp đã ấn định, từng được sử dụng chính thức trong hơn hai thập niên ở miền Nam.
Cũng như gần đây, khi tôi dùng hai chữ ĐỒNG CHÍ khi nói về một người bạn cùng hoạt động chính trị, đã có một anh bạn mỉa mai rằng tôi cũng dùng chữ VC. Nếu cứ né tránh những chữ VC đang sử dụng, thì e rằng chúng ta không còn chữ nào để viết và nói với nhau. Chúng ta chỉ tránh những chữ mà VC dùng sai nghĩa hay cắt xén, lắp ghép bừa bãi để khó nghe mà thôi. Chữ của cha ông, không riêng gì của VC hay VNCH. Tùy trình độ và quan điểm mà mỗi bên dùng khác nhau, Chúng ta nên khách quan, sáng suốt. cứ mạnh dạn dùng theo cách chúng ta. Vì không phải chữ nào bên VC dùng thì chúng ta né đi. Riết rồi chúng ta còn chữ nào mà nói, viết nữa.
Sơ Tán, Di Tản
Tán: 散 Tán, là giãn ra, như vân tán (mây tan), tán muộn (giải buồn). Một âm khác của 散 còn đọc là Tản có nghĩa rời rạc (tản mác). Khác với Tán 酇 có nghĩa là tụ lại.
Sơ: 散 là mới, là trước. Cái gì xảy ra lúc ban đầu đều gọi là sơ (sơ giao là mới quen, sơ khởi là mới bắt đầu, sơ học là học ở bước khởi đầu).
Di: 貤 là dời, 移cũng là di, dời đi, chuyển đi.
Tán hay Tản thì cũng từ một chữ Hán, có cùng một nghĩa. Với các định nghĩa từng chữ như trên, chúng ta có thể nói
- Di Tản 移 散: là hành vi phân tán và di chuyển đi nơi khác.
Ví dụ: Hàng ngàn dân quê phải di tản ra khỏi vùng chiến sự.
Di tản chỉ mang tính chất tạm thời; nếu ra đi vĩnh viễn thì gọi là di cư 移居. Nhưng trong cuộc chiến Việt Nam, ở nhiều vùng dân chúng di tản từ vùng nông thôn đến các thị xã và coi như không mong có ngày trở về.
- Sơ Tán 散 散 là hành vi phân tán ban đầu khi có biến cố xảy ra.
Ví dụ: để tránh thiệt hại nhân mạng trong các cuộc không kích của Mỹ, dân chúng Hà Nội phải sơ tán ra các vùng ngoại ô.
Những cuộc di chuyển xảy ra về sau không thể gọi là sơ tán nữa.
Có người thắc mắc về hai chữ “di dời, vụ việc;” đã di còn thêm dời, đã vụ lại còn thêm việc? Như thế có phải thừa không!
Những cách ghép chữ cho câu nói nghe xuôi tai cũng không có gì lạ. Những chữ ghép bởi hai chữ cùng nghĩa hay một chữ có nghĩa, một chữ không nghĩa; hoặc một chữ gốc Hán, một thuần Việt, là để cho câu văn không bị thô thiển, nghe êm tai theo vần điệu, miễn không sai nghĩa hay kỳ quặc như mấy chữ cặp đôi, cụm từ.... Những chữ chúng ta thường nghe: tĩnh lặng, buồn rầu, đùa cợt, in ấn, bến cảng, che đậy, chen lấn, xô đẩy, thúc dục, ca hát, phẫn nộ, ... Nhiều lắm.
Còn hai chữ Vụ Việc thì có khác nhau đấy. Một vụ nói đến cách bao quát, việc chỉ một hành vi. Vụ giết người có nhiều yếu tố từ âm , dàn dựng, rình mò, theo dõi, hành vi giết, phi tang, tẩu thoát... nhưng việc giết người chỉ là một hành vi dùng vũ khí hay tay không để làm chết người. Người ta nói: một vụ án thì trong đó có nhiều tình tiết; điều tra một vụ tham nhũng trong đó có việc sưu tầm tài liệu, hỏi cung, kết luận...
No comments:
Post a Comment