Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó…
Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về các chữ Ngữ cảnh-bối cảnh
Từ những năm gần đây, chữ “ngữ cảnh” thấy xuất hiện nhiều trên các báo bên Việt Nam và cả báo chí của người Việt tại hải ngoại. Chữ này rất mới mà chúng tôi chưa bao giờ nghe hay đọc trong sách báo Việt Nam trước 1975. Lần mở hết các cuốn tự điển ngày trước ra cũng không tìm thấy. Các cuốn Việt Hán Tự Điển của Huỳnh Minh Xuân (trang 577-578), Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ (trang 1406), Tự Điển Khai Trí Tiến Đức (trang 399), Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị của Lê Ngọc Trụ (trang 338), và Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh (cuốn hạ, trang 51) đều có nhiều chữ ghép với Ngữ, nhưng không thấy Ngữ Cảnh. Tìm trong Tự Điển Hán Nôm, thì thấy câu trả lời “không có kết quả phù hợp.”
Nhưng nếu vào các trang web của Việt Nam Cộng Sản bây giờ, thì thấy chỗ nào cũng có với các định nghĩa cầu kỳ, khó hiểu:
“Ngữ cảnh là tất cả những gì có liên quan đến việc tạo lập và hiểu câu nói, bao gồm văn cảnh và tình huống giao tiếp,” hoặc
“Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đó sản phẩm ngôn ngữ (văn bản) được tao ra trong hoạt động giao tiếp, đồng thời là bối cảnh cần dựa vào để lĩnh hội thấu đáo sản phẩm ngôn ngữ đó,” hoặc bí ẩn hơn như:
“Ngữ cảnh là toàn bộ nói chung những đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụ thể của đơn vị ngôn ngữ đó trong chuỗi lời nói.”
Đọc các câu định nghĩa rối rắm sặc mùi văn chương Xã hội Chủ Nghĩa; thú thật chúng tôi cũng lùng bùng. Chỉ xin phép ‘dịch’ lại theo cách dùng chữ giản dị miền Nam như sau:
“Ngữ cảnh là toàn bộ đoạn văn hay bài văn trong đó có chữ hay nhóm chữ mà chúng ta đề cập đến; nhờ vậy chúng ta hiểu đúng ý của tác giả về chữ hay nhóm chữ đó.”
Ngoài chữ “ngữ cảnh,” bên Việt Nam còn ghép thêm nhiều chữ mới với định nghĩa như sau:
Văn cảnh: là những từ ngữ, câu đi trước hoặc đi sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét.
Ngữ hệ: Tập hợp những ngôn ngữ có cùng một nguồn gốc.
Ngữ liệu: Tư liệu ngôn ngữ được dùng làm căn cứ để nghiên cứu ngôn ngữ.
Ngữ nghĩa: Nghĩa của từ, câu, v.v. trong ngôn ngữ (nói khái quát)..
Ngữ tộc: (Ít dùng) như ngữ hệ.
Ngữ văn: Ngôn ngữ học và văn học (nói tổng quát).
Ngữ âm học: Bộ môn ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu ngữ âm của ngôn ngữ.
Ngữ điệu: Sự diễn biến của cao độ, cường độ, tốc độ âm thanh của một ngữ đoạn lời nói, biểu thị một số ý nghĩa...
Ngữ pháp: Hệ thống những phương thức và quy tắc cấu tạo từ, cấu tạo câu trong một ngôn ngữ.
Trong các danh từ có chung Ngữ là tiếp đầu ngữ kể trên, có vài chữ mà chúng ta cũng từng biết như Ngữ pháp (được hiểu là văn phạm), Ngữ điệu… Những chữ khác nghe khá lạ tai! Nhưng xét ra thì sự ghép các chữ trên cũng không có gì sai vì người ta có thể ghép hay đặt thêm các chữ mới để làm phong phú ngôn ngữ và mang tính cách tiện lợi.
Chữ “ngữ cảnh” (trong Anh Ngữ gọi là context mà Tự Điển Merriam-Webster định nghĩa “the parts of a discourse that surround a word or passage and can throw light on its meaning”) theo chúng tôi tạm dịch là “những phần của một đoạn văn để làm sáng tỏ ý nghĩa của một chữ hay nhóm chữ trong đoạn văn đó.” Một nhóm chữ khi tách ra khỏi toàn đoạn văn (context) thì có thể bị suy diễn theo mọi cách tuỳ theo chủ quan và cảm tính của mỗi người. Người ta có thể xuyên tạc, vu khống, chụp mũ hay ngược lại, khen ngợi, tâng bốc nhau vì một câu ngắn trong một đoạn văn. Vì thế, muốn hiểu thật rõ, phải đọc trọn cái context. Những kẻ xấu thường cắt xén một câu trong đoạn văn để bóp méo và lên án đối thủ chính trị. Ví dụ: Một lần trong một cuộc trò chuyện với cử tri về nhóm di dân BHP, TT Trump đã gọi bọn côn đồ MS-13 là bọn súc vật. Ông đã bị phe tả cắt xén câu này ra khỏi toàn bộ bài văn để ghép cho ông là kỳ thị, khinh miệt di dân.
Chúng ta thường chỉ nói một cách đơn giản “chữ đó, câu đó nói từ đoạn nào, nói trong hoàn cảnh nào…” mà không dùng chữ “ngữ cảnh.”
Đi xa hơn, báo chí bên Việt Nam còn dùng chữ Ngữ Cảnh cho bất cứ vấn đề nào ngoài phạm vi ngôn ngữ. Có lần chúng tôi đọc trong một bản tin rằng “Tàu sân bay của Mỹ đi qua biển đông trong ngữ cảnh Trung Quốc đang có những đe dọa…” Lẽ ra phải dùng chữ “bối cảnh.”
Điều này cho thấy trên đời luôn có những người sính dùng những chữ hoa mỹ nhưng không hiểu biết ý nghĩa đích thực của nó. Thật ra, trong trường hợp vừa nói, có thể dùng những chữ ‘bối cảnh, hoàn cảnh, tình huống, tình hình.’ Nhất thiết không thể là ‘NGỮ cảnh.”
Bối Cảnh – Hậu Trường – Sân Khấu – Vũ Đài
Bối nghĩa là phía sau, bối cảnh là cái phông sau sân khấu; là ‘cảnh bố trí ở sau một vũ đài, là tình cảnh đằng sau một việc.’ (Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh, trang 61). Còn ‘hậu trường, sân khấu, vũ đài’ thì khỏi cần giải thích, ai cũng biết những chữ đó nói về những thứ gì rồi.
Trong một vở tuồng, vở kịch; bối cảnh là cái phông bằng vải trên đó người ta vẽ khi thì một phòng khách nhìn ra, có cửa sổ, có màn che, có chậu hoa; khi thì cảnh núi rừng, có suối, có hoa, khi thì lâu đài, thành quách... tùy vào nội dung của phân đoạn trong vở tuồng.
Trong ngành điện ảnh, có điều kiện thì người ta quay phim ngoài thực địa; nhưng cũng phải dàn dựng cảnh xung quanh cho phù hợp. Người ta chỉ cần một tấm phông phía sau, hay hai tấm ghép lại là dủ cho một cảnh quay. Tôi nhớ được xem một vài hình ảnh thực tế, ở phim trường, khi cô tài tử xinh đẹp đóng vai Juliet đứng ở cửa số lâu đài, đón nhận nụ hoa của chàng Romeo. Chẳng phải lâu đài thật đâu; mà chỉ lá cái phông có vẽ chi tiết ở phía trước. Còn cô Juliet thì đang đứng trên cái ghế cao phía sau khung cửa, xung quanh cũng ngổn ngang những thứ dụng cụ, dây nhợ. Chúng tôi có vài dịp được phỏng vấn với đài truyền hình lớn ngay tại studio của họ. Hóa ra chỉ có một phạm vi nhỏ hẹp của những người phỏng vấn, và người được phỏng vấn là tươm tất như quí vị thấy trên màn ảnh. Còn bên trên thì xà ngang, xà dọc, dây cáp, bóng đèn... xung quanh cũng bề bộn những dụng cụ.
Những chữ bối cảnh không bị giới hạn để chỉ nói về lãnh vực sân khấu, mà còn được dùng rộng rãi hơn trong nhiều lãnh vực quan trọng khác. Người ta coi chính trường như trên sân khấu hoặc như vũ đài; các chính trị gia đóng trò, đấu đá nhau chưa hẳn là thực tâm; Họ sẽ lộ diện bản chất ở phía sau hậu trường, nơi mà họ sẽ thương lượng để đạt được mức lợi cao nhất cho mình hay phe mình.
Ví dụ:
• Nhà văn Nhất Linh viết truyện Đoạn Tuyệt dùng bối cảnh một xã hội phong kiến coi trọng gia phong, lễ giáo.
• Trong cuốn Naked Earth của bà Eileen Chang kể về mối tình đau thương của hai thanh niên nam nữ, lồng trong bối cảnh một nước Trung Hoa dưới thời Đảng Cộng Sản Trung Hoa và Mao Trạch Đông mới lên cầm quyền.
• Trong bối cảnh xung đột giữa Liên Sô và Trung Cộng, Tổng Thống Nixon đã đến thăm Hoa Lục, mở đầu cho một giai đoạn bang giao mới.
• Sau 1990, nhiều nước theo phe Xã Hội Chủ Nghĩa đã biến mất trên vũ đài quốc tế.
• Có nhiều chuyện đáng kinh khiếp sau hậu trường Tòa Bạch Cung dưới thời TT Clinton.
• Sân khấu chính trường miền Nam trở nên bát nháo sau những vụ đảo chánh, chỉnh lý nội bộ giữa các tướng lãnh.
Vậy, phải định nghĩa Bối Cảnh thế nào cho rõ nghĩa?
Bối Cảnh là toàn cảnh, là môi trường mà những sự việc, diễn biến xảy ra, ít hay nhiều bị sự chi phối của toàn cảnh đó. Nếu tách sự kiện ra khỏi bối cảnh, sẽ bị hiểu sai lệch đi. Có thể mượn tiếng Anh là Context, Setting, Background, Surroundings, Circumstances. Trong trường hợp văn chương, người ta dùng chữ ‘Ngữ Cảnh.”
• Một câu văn ngắn có thể bị trích ra từ ‘ngữ cảnh,’ là cả một đoạn văn để dễ dàng xuyên tạc ý của tác giả.
No comments:
Post a Comment