Tuyên truyền dối trá hầu phỉnh gạt dân chúng là sở trường màđảng CSVNđã tận dụng trong suốt gần một thế kỷ qua.
Kính mời quý thính giả theo dõi bài Quan Điểm của Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc,tựa đề “’KỶ NGUYÊN MỚI’ CỦA ĐẢNG CSVN VÀ THỰC TRẠNG CỦA ĐẤT NƯỚC” qua sự trình bày của HẢI NGUYÊN ...
Tại Đại hội XIV của đảng CSVN kết thúc cách đây 3 tuần, cũng như trong bài viết vào dịp kỷ niệm 96 năm khai sinh đảng ngày 3 tháng 2 vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm đều lớn tiếng tuyên bố Việt Nam đang bước vào một “kỷ nguyên mới”, một thời kỳ phồn vinh và tương lai tươi sáng. Những lời lẽ đó được trình bày như một bước ngoặt lịch sử, qua đó đất nước đã sẵn sàng cất cánh. Nhưng nếu nhìn vào đời sống thực tế của người dân hôm nay, người ta thấy một bức tranh hoàn toàn trái ngược.
Trước hết là chuyện việc làm của giới trẻ. Theo số liệu gần đây, tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm thanh niên từ 15 đến 24 tuổi vào khoảng 9 phần trăm, riêng khu vực thành thị vượt quá 11 phần trăm. Nghĩa là cứ mười người trẻ ra trường thì có một người không tìm được việc làm chính thức. Đó không chỉ là phần trăm thống kê. Đó là hàng trăm ngàn thanh niên sống trong tâm trạng chờ đợi, chấp nhận làm tạm bợ hoặc trái ngành để tồn tại. Một đất nước không tạo đủ việc làm cho lớp trẻ thì khó thể nói mình đang mở ra một thời kỳ rực rỡ.
Song song với nỗi lo thất nghiệp là gánh nặng giá cả sinh hoạt. Chỉ số giá tiêu dùng năm qua tăng khoảng 3 đến 4 phần trăm theo báo cáo chính thức. Con số ấy nghe qua có vẻ nằm trong giới hạn cho phép, nhưng người dân cảm nhận rất rõ áp lực từ tiền điện, tiền nước, học phí, phí tổn khám bịnh, nhà thươngí và giá cả thực phẩm. Lương của người lao động không tăng tương xứng với các chi phí này. Thu nhập đứng yên trong khi chi tiêu nhích lên từng bước. Kết quả là sức mua suy giảm, tiểu thương bán chậm, quán ăn vắng khách, doanh nghiệp nhỏ phải cầm cự qua ngày.
Tình hình doanh nghiệp cũng không sáng sủa hơn. Trong chín tháng đầu năm vừa qua, đã có hàng chục ngàn doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể. Mỗi doanh nghiệp đóng cửa là một chuỗi việc làm bị cắt đứt. Khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng cao như vậy, không thể nói nền kinh tế đang vững vàng tiến tới một kỷ nguyên mới. Đó là dấu hiệu của sự trì trệ, suy thoái.
Lĩnh vực tài chánh cho thấy những nguy cơ tiềm ẩn khác. Nợ công hiện vào khoảng 37 phần trăm GDP theo ước tính gần nhất. Con số này chưa phải mức báo động đỏ, nhưng điều quan trọng là hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay mượn. Nếu số vốn này không được đầu tư vào những dự án mang lại lợi ích thiết thực, gánh nặng trả nợ cuối cùng vẫn đổ lên vai người dân. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng được công bố khoảng 5 phần trăm, và nếu tính cả những khoản tiềm ẩn thì còn cao hơn. Nợ xấu gia tăng khiến ngân hàng dè dặt cho vay, dòng vốn không luân lưu thông suốt, doanh nghiệp càng khó phục hồi.
Những con số ấy đặt cạnh lời tuyên bố về “kỷ nguyên mới” cho thấy một khoảng cách to lớn giữa lời nói và thực tế. Khó khăn của thế giới là điều nhiều quốc gia cùng đối diện, nhưng cách điều hành trong nước mới quyết định sức chịu đựng của nền kinh tế. Khi cơ chế quản lý thiếu minh bạch và thiếu đối trọng, sai lầm dễ kéo dài mà không được điều chỉnh kịp thời.
Một hệ thống đặt toàn bộ quyền lực vào tay một đảng duy nhất tất yếu thiếu sự kiểm soát hiệu quả. Khi không có cạnh tranh chính trị, không có báo chí độc lập để truy vấn đến cùng, những quyết định sai lầm khó bị ngăn chặn. Những dự án thua lỗ, những khoản đầu mờ ám và những chính sách thiếu hiệu quả không phải là chuyện ngẫu nhiên. Chúng là hệ quả của một cơ chế không buộc người cầm quyền phải chịu trách nhiệm thực sự trước dân chúng.
Thể chế độc tài không chỉ bóp nghẹt tự do, mà còn làm méo mó sinh hoạt kinh tế. Trong môi trường xin cho, doanh nghiệp thân hữu dễ được ưu ái hơn doanh nghiệp làm ăn chân chính. Khi luật lệ không áp dụng bình đẳng cho mọi người, niềm tin vào thị trường bị giảm sút. Nhà đầu tư e ngại rủi ro chính sách, người dân lo lắng cho tương lai, và nền kinh tế mất dần sức sống.
Hiến pháp hiện hành, qua điều 4, trao cho đảng Cộng sản quyền lãnh đạo độc tôn. Khi sự độc tôn đó được khẳng định thành nguyên tắc tối cao, quyền lựa chọn của người dân bị thu hẹp. Không có cơ chế thay đổi quyền lực một cách minh bạch và cạnh tranh, mọi lời hứa cải cách chỉ dừng ở mức điều chỉnh bên ngoài. Muốn có một “kỷ nguyên mới” đúng nghĩa, phải thay đổi nền tảng chính trị đó.
LỰC LƯỢNG DÂN TỘC CƯU NGUY TỔ QUỐCchủ trương sự phồn vinh của đất nước không thể xây dựng trên sự độc quyền quyền lực. Muốn thanh niên có việc làm, phải có môi trường kinh tế minh bạch và công bằng. Muốn giá cả ổn định, phải có chính sách tài chánh được giám sát chặt chẽ. Muốn doanh nghiệp tồn tại và phát triển, phải bảo đảm luật pháp rõ ràng và quyền sở hưu tài sản được tôn trọng.
“Kỷ nguyên mới” không thể chỉ là lời hứa vang lên trong hội trường. Nó phải là sự thay đổi thật sự trong cấu trúc quyền lực và cách điều hành đất nước. Khi điều 4 của Hiến pháp còn bảo đảm sự thống trị độc tôn của một đảng, hy vọng đổi mới sâu rộng chỉ là ảo tưởng. Chỉ khi quyền quyết định thuộc về về với người dân qua thể chế Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên, đất nước mới có thể bước sang một thời kỳ mới đúng nghĩa, nơi những con số thống kê và đời sống thực tế không còn đối nghịch nhau./.
No comments:
Post a Comment