Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó…
Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về các chữ
Chuyện xưa, có bác nông dân dắt trâu ra đồng. Gặp cọp, nó hỏi:
“Này bác, sao bác nhỏ bé mà sai khiến được con trâu to lớn gấp ba, gấp bốn bác?”
“Vì ta có trí khôn,” Bác nông dân trả lời
“Thế trí khôn là gì, có thể cho ta xem không?”
“Trí khôn ta để ở nhà.”
“Bác về lấy cho ta xem đi.”
“Không, mi sẽ ăn thịt con trâu của ta mất.”
“Ta thề không ăn thịt trâu đâu.”
“Ai mà tin được mi, miệng lưỡi như bọn Việt Cộng. Nếu mi để ta trói vào gốc cây cho yên lòng thì ta sẽ về nhà lấy trí khôn cho mi xem.”
Cọp đồng ý. Bác nông dân dùng dây thừng trói chặt con cọp vào gốc cây. Xong, lấy cái cuốc đánh liên hồi vào cọp, vừa la lên:
“Đây, trí khôn của ta đây. Thấy chưa?”
Trí 致 theo Tự Điển Tín Đức trang 600, là “phần khôn biết, thông hiểu ở trong tinh thần người ta”. Cũng có chữ Trí khác 智 có cùng nghĩa là khôn, hiểu thấu lý sự.
Trí khôn là tài năng để nhận biết phẩm cách nội tại và các mối tương quan nội tại (Wisdom: ability to discern inner qualities and relationships). Trí khôn là món quà mà Thượng đế ban cho mọi loài thú, ít hay nhiều để có thể tìm cách sinh tồn trong thiên nhiên khắc nghiệt. Người có trí là người thông minh, khôn ngoan dù không được ai chỉ dạy trước. Trí khôn cũng như Thông minh 通明 (intelligence) là tài năng bẩm sinh để học hỏi và thông hiểu sự vật hay để đối phó khi ở trong hoàn cách khó khăn (the ability to learn or understand things or to deal with new or difficult situations)
Trí thức 致識 (Intellect) được định nghĩa là khả năng suy nghĩ một cách hợp lý và thông minh, đặc biệt khi khả năng đó được phát triển ở tầm cao (the capacity for rational or intelligent thought especially when highly developed).
Isaac Newton ngồi dưới gốc cây thấy trái táo rơi mà tìm ra định luật hấp dẫn của vũ trụ. Archimedes đi tắm tình cờ khám phá ra luật về lực đẩy của nước vào một vật chìm trong nó. Đa số các định lý về toán, vật lý đều do sự tình cờ; nhưng với trí tuệ siêu việt, họ đã khám phá ra những định luật mà truyền cho đời sau. Từ đó, người đi học thu nhận điều mà chúng ta gọi là ‘kiến thức’ hay ‘tri thức.’
Vậy Tri Thức là gì?
Tri 知 có nghĩa đơn giản là biết. Như thế, nhờ các giác quan mà con người biết sự vật căn bản; rồi nhờ học hỏi mà biết thêm những điều phức tạp khác.
Tri thức 知識 là sự hiểu biết nhờ vào việc học hành hay trải qua kinh nghiệm (Knowledge, information, understanding, or skill that you get from experience or education).
Tại sao gọi các nhà khoa bảng là ‘trí thức”? Có đúng hay không?
Thời xa xưa, dân Việt Nam đại đa số làm nghề nông, sinh sống hầu hết ở nông thôn. Số người đi học rất hiếm hoi. Vì thế, học sinh được xếp đứng đầu trong năm giới: sĩ, nông, công, thương, binh! Thời xa xưa đó, phải chờ ba năm mới có một cuộc thi Hương để chọn các Cử Nhân. Một năm sau có kỳ thi Hội, thi Đình để chọn các Tiến Sĩ. Con số người đỗ trong mỗi cuộc thi không tới một phần trăm số người ứng thí. Cả nước chỉ sản xuất mỗi ba năm chừng chục vị tiến sĩ!
Vì thế, những người có học vị Tiến Sĩ, Cử Nhân hay Tú Tài ngày xưa được xem là thành phần ưu tú, được trọng vọng, ưu đãi nhất trong xã hội.
Sau khi thiết lập nền Cộng Hoà, chính phủ ta cải cách chế độ thi cử theo khuôn mẫu Tây Phương. Tuy số người đi học lên rất cao, nhưng những vị có bằng tú tài trở lên vào thời đó cũng vẫn là giới ưu tú có nhiều cơ hội đạt đến địa vị trung lưu. Qua thập niên 1960 trở đi, bằng Tú Tài mới trở thành phổ thông, nhưng cũng còn là lằn ranh phân định ngưỡng cửa của giới trung lưu.
Người Việt Nam thì quá coi trọng mảnh bằng, vì đó là chiếc vé cho tương lai no ấm vẻ vang; là cái chìa khoá mở những cánh cửa quyền lực và đặc quyền khác. Đối với người Việt, điều quan trọng không phải chỉ là kiến thức mà chỉ vì vai vế trong xã hội, làm chức cao, kiếm thật nhiều tiền, coi đó là cứu cánh của cuộc đời.
Và người ta gán cho các vị có bằng cấp đại học là giới “trí thức”! Có nhiều tranh cãi quanh việc này.
Bằng cấp thật ra chỉ là một tờ giấy chứng nhận một sinh viên đã qua được các kỳ thi, đạt số điểm trên trung bình. Nó là sự chứng nhận người có bằng có những kiến thức hay hiểu biết về chuyên môn nào đó, ở một trình độ nhất định nào đó. ‘Tri thức’ là kết quả sau nhiều năm vất vả trong các trường học. Kiến thức hay Tri thức không phải chỉ do sự học ở trường, mà còn do sự tìm tòi học hỏi ngoài đời hay rút tỉa từ kinh nghiệm.
Giới khoa bảng phải được gọi là giới “tri thức,” tức là có sự hiểu biết do được truyền đạt từ học đuờng về ngành chuyên môn mà họ theo đuổi! Càng học cao, thì tri thức càng chuyên sâu; nhưng không bao trùm hết mọi lãnh vực.
Chúng ta cần nhận thấy trước khi có “tri” thì phải có “trí”. Người có trí, học một biết mười; người không có trí, chỉ biết –tri - trong giới hạn được học mà không phát triển thêm. Người có “trí” không cần kiến thức của ai dạy, nhưng nghe, nhìn sự vật, sự kiện mà tự mình xét đoán cái nhân và cái quả của nó.
Nói về “trí thức” như đã định nghĩa ở phần trên, là tài năng bẩm sinh mà Thượng đế ban phát cho mọi loài. Người nhiều, kẻ ít; có người thông tuệ, lại có kẻ u mê đần độn..
Thuở hồng hoang, con người nhờ “trí tuệ” mà vươn lên, vượt hẳn các loài động vật. Họ tìm ra lửa, làm vũ khí bằng đá, rồi bằng đồng. Họ dựng nhà để che mưa nắng, kết các thứ lượm được để che thân thể. Rồi qua thời gian, họ chế ra bánh xe tròn để chuyển vận. Họ sáng tạo ra chữ viết, giấy, mực để truyền thông. Và dần dà, qua hàng vạn năm với hàng triệu phát minh mà ngày nay có một nền văn minh tuyệt vời để chúng ta thừa hưởng.
Rồi những khám phá, sáng tạo đó, được hệ thống hoá trở thành “tri thức” để truyền đạt cho người khác qua giáo dục.
Nếu không có “trí tuệ” minh mẫn của Isaac Newton, Galileo Galilei, Archimedes, Albert Einstein, Marie Curie… thì sẽ không có những “tri thức” khoa học vật lý cho chúng ta ngày nay.
Một số các vị nói trên chưa hẳn ngày xưa có nhiều bằng cấp, khoa bảng. Chúa Jesus con của một người thợ mộc nay đây mai đó, có lẽ chưa qua các trường lớp; nhưng Ngài lý giải mọi việc phân minh. Nếu không có “trí huệ” siêu phàm của Đức Thích Ca, thì chúng ta không biết lý giải thế nào về căn nguyên của cuộc sống bí ẩn! (Trí huệ là do sự tu dưỡng mà có).
Chúng ta cũng không phủ nhận trí thức của các khoa bảng. Họ cũng có thể là những nhà “trí thức” nếu tự bản thân họ là người sáng trí. Nhưng như nhà bác học Albert Einstein có nói rằng giá trị của giáo dục bậc đại học không phải là học để thu nhận tri thức, mà còn là để rèn luyện trí thức. Vì thế, nếu chỉ lấy cấp bằng rồi tự mãn mà không nghiên cứu thì đúng họ chỉ là “tri thức” mà chưa thể là “trí thức.”
No comments:
Post a Comment