Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó. Đề tài kỳ này: Xin Đừng Làm Nghèo Tiếng Việt
Đỗ Văn Phúc
Ngày 22 tháng 8 năm 2026, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam ban hành Nghị Quyết số 25-NQ/TW, mang tên "Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới." trong đó có một câu: “Nhận diện sớm và phản bác kịp thời bằng luận cứ khoa học đối với 100% quan điểm sai trái, thù địch có tác động lớn đến đời sống xã hội; ngăn chặn kịp thời 100% nội dung vi phạm nghiêm trọng theo quy định của pháp luật; mức độ lan toả của nội dung xấu độc trong nước giảm tối thiểu 70% so với năm 2026.”
1.- Lan tỏa:
Trong một điện thư của một nhóm người trẻ tại Mỹ gửi ra để giới thiệu cuốn phim tài liệu 2000 Mules đưa ra bằng chứng không thể chối cãi về gian lận bầu cử Mỹ năm 2020, có đoạn: “Bây giờ điều chúng ta cần làm là: … lan tỏa các bản tin, phát DVD cho các quan chức, gửi link cho cảnh sát địa phương hay thậm chí tổ chức công chiếu.”
Tôi cũng có vài lần đọc thấy chữ Lan Tỏa này trong một tờ bán nguyệt san bán rất chạy ở các thành phố của Mỹ với cách dùng tương tự. Xin trả lời anh Quang Nam; chữ “lan tỏa” dùng sai chỗ, có vẻ như lối ưa dùng chữ văn hoa rất phổ biên hiện nay.
Lan: rải rộng ra (Tự Điển Tiến Đúc, trang 202).
Ví dụ: Cỏ lan ra đầy vườn. Nước lan ra mặt bàn.
Tỏa: Tóe ra, tủa ra (TĐTĐ, trang 527).
Ví dụ: Khói hương tỏa ra nghi ngút. Mùi thơm hoa lài tỏa ra không gian. Đèn bật lên, ánh sáng tỏa ra khắp phòng.
Lan hay tỏa là loại động từ intransitive (không cần túc từ), một vật tự nó lan, tỏa ra.
Ví dụ: “Mùi hương tỏa ra, giọt nước lan ra”; không cần ai phải "lan" hay "tỏa" chúng. Cũng không phải loại transitive mà phải có túc từ đi theo. Ví dụ: “Tôi đã loan truyền tin này ra công chúng.” Khi nói về những loại như tin tức, kiến thức, báo chí, vân vân để mọi người biết đến, người ta dùng các động tự thông tin, phổ biến, loan tải, loan truyền.
Ví dụ:
Hãy thông tin cho mọi người hay biết.
Bài này cần được phổ biến thật sâu rộng.
Tin xấu đã bị loan truyền khắp nơi.
Hãy loan tin vui này cho cả gia đình hay.
Trong trường hợp quan trọng hơn, người ta dùng chữ ”Truyền Đạt, Truyền Bá.”
Ví dụ:
Truyền đạt sứ điệp của Toà Thánh Vatican cho giáo dân.
Hãy truyền bá sâu rộng chữ quốc ngữ đến toàn dân.
2.- Mỗi chữ có cách dùng khác nhau. Chữ lan tỏa tuy cũng na ná như loan truyền, nhưng không dùng trong trường hợp thông tin. Cũng như có rất nhiều chữ tuy có nghĩa đúng, nhưng dùng không đúng chỗ. Tiếng Việt khá phong phú. Khi nói về tập thể người có các chữ khác nhau như: đoàn quân, đám lính, nhóm người, bọn cướp, lũ trộm cắp... Nói về thú vật thì đàn sói, bầy chim; nói về cây cỏ thì cụm rừng, cụm cây, chùm hoa, đám rẫy, đống cũi, khóm hoa, bó lúa, vân vân; về các loại vật khác thì: chùm bong bóng, tập ảnh, tập thơ, xấp hình, nhóm chữ... Chứ không nói chùm thơ, chùm ảnh, cụm từ.
Ví dụ:
Bầy, đàn là nói về một số động; nhưng chỉ dùng cho súc vật, hay dùng cho người với cách miệt thị. Không ai nói “một bầy thanh niên, một đàn viên chức.”
Xinh xắn, chỉ dùng cho các vật nhỏ, các cô gái nhỏ tuổi, các em bé. Không ai khen “Chà, ông lão xinh quá, con bò này xinh ghê, tòa lâu đài xinh xắn.”
Long lanh để diễn tả sự phản chiếu ánh sáng của một vật trong suốt. Không ai nói: “Cô ấy đẹp long lanh!”
3.- Hiểu sai cách xưng hô trong Hán Tự
Mới đây, trong một cái post của một anh X mừng sinh nhật “ ‘Tiện nội’ của tôi,” có một anh Y gửi lời chúc “mừng ‘tiện nội’ anh X.”
Tiện 賤 có nghĩa là hạ tiện, hèn hạ.
Tiện nội là cách người Trung Hoa giới thiệu về vợ mình theo cách khiêm cung, tự hạ mình. Khác với thông thường, người ta thường dùng những chữ khen tặng như: người vợ hiền, đứa con thảo..., người Trung Hoa thì trái lại, họ khiêm cung quá mức. Họ tự nhận mình là tiện nhân; giới thiệu vợ là tiện nội, con gái là tiện nữ; phụ nữ thì tự nhận mình là tiện thiếp, tiện thê, tiện tì...
Ngoài ra còn những chữ tự hạ mình khác như bần 貧, hạ 下, ngu 愚: bần sĩ, bần tăng, bần đạo, bần dân, hạ thần; ngu thần, ngu huynh, ngu đệ.
Xin lưu ý: Chữ “ngu” 愚 dùng cách khiêm cung này có nghĩa là ngu dốt; khác với chữ “ngu” 虞 là yên vui; cũng là một họ bên Trung Hoa: như họ nàng Ngu Cơ, nước Ngu, nhà Ngu 虞 (trong khoảng 2697-2033 trước Tây lịch). Hồ Quí Ly, sau khi đoạt ngôi nhà Trần cũng đặt tên nước là “Đại Ngu.” Còn có chữ “ngu bổn” 愚笨 (cục mịch, khờ khạo) mà cha mẹ bên Trung Hoa thường mắng yêu con mình..
Cũng nhân tiện, xin nói qua chữ Quí Tử 貴子 là đứa con được cưng chiều.
Quí này 貴 có nghĩa là sang trọng như Quí nhân, Quí vị; viết khác với chữ Quí 季 là út, là cuối, như Thu Quí, Xuân Quí (cuối mùa thu, cuối mùa xuân). Tiếng Hán gọi con trai út gọi là Quí Nam, con gái út là Quí Nữ.
Xin đừng viết nửa nạc nửa mỡ “út nam, út nữ,” mà nên nói hoàn toàn Việt là “con trai út, con gái út”; hay hoàn toàn tiếng Hán là “quí nam, quí nữ.” Vì chữ Út là tiếng Việt thuần túy, nếu ghép với một chữ Hán, phải tuân theo qui tắc tiếng Việt là danh từ đi trước tĩnh từ.
Ví dụ: Trời quang, đêm trường, trai thanh, gái lịch, xe hỏa... không ai nói ngược ngạo là quang trời, trường đêm, thanh trai, lịch gái, hỏa xe...
4.- Không nên pha trộn, nửa nạc nửa mỡ
Chúng tôi để ý thấy trên nhiều bản cáo phó, ghi danh sách những thành viên trong gia đình người quá cố thường không đồng nhất: pha trộn danh xưng tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng nửa Việt nủa Hán Việt...
Ví dụ: Trưởng Nam Nguyễn văn A, Thứ nữ Nguyễn thị B, Dâu trưởng lê thị C., Út nam Nguyễn Văn D., Út nữ Nguyễn thị E...
Nếu tang gia muốn cho văn hoa, thì nên truy cứu mà dùng toàn danh xưng chữ Hán không thôi:
Ví dụ: Thân phụ, thân mẫu, nghiêm phụ, hiền mẫu, nhạc phụ, nhạc mẫu, phu quân, hiền thê, hiền nội, trưởng nam, trưởng nữ, thứ nam, thứ nữ, trưởng tức (dâu trưởng), thứ tức (dâu kế), hiền tế (rể), quí nam (con trai út), quí nữ (con gái út)...
Nên cẩn thận: lựa chọn cách xưng hô tùy thuộc khi chúng ta nói về người trong nhà, hay khi nói về gia đình người khác. Cũng cần lưu ý: danh sách các lối xưng hô Hán Việt này trong wikipedia tiếng Việt và nhiều trang web tiếng Việt có vài chỗ sai, cần tra cứu thêm trong tự điển Hán Việt cho chính xác.
Còn nếu thấy rắc rối và sợ dùng không đúng, thì nên dùng toàn tiếng Việt hay tiếng Việt có pha Hán nhưng cấu trúc đúng văn phạm là tĩnh từ theo sau danh tự:
Ví dụ: Chồng, vợ, cha, mẹ, con trai trưởng, con gái thứ , con rể, con dâu, con trai út, con gái út... (cũng không cần ghi nam hay nữ, vì tự cái tên đã phân biệt rồi)
No comments:
Post a Comment