Dưới chế độ độc đảng, người nông dân Việt Nam từ lâu đã bị xem là đối tượng để vận động và khai thác, chứ chưa bao giờ là chủ nhân thật sự của đồng ruộng. Mỗi khi thị trường biến động, cái giá phải trả luôn đổ lên vai người làm ra hạt gạo. Mùa màng năm nay là một thí dụ điển hình, khi chi phí sản xuất leo thang trong lúc giá bán nông sản vẫn chập chờn.
Trong chuyên mục Chuyện Nước Non Mình hôm nay, kính mời quý thính giả theo dõi bài viết của VIỆT QUẾ, thành viên Ban Biên Tập đài ĐLSN, tựa đề "Phân tăng, lúa rớt: nông dân lãnh đủ", sẽ do Nhã Uyên trình bày sau đây ...
Giữa tháng Chín năm 2026, thị trường phân bón thế giới lại nóng lên khi giá phân urê, DAP và amoniac đồng loạt leo thang, đúng lúc nông dân miền Tây chuẩn bị xuống giống vụ Đông Xuân 2026–2027. Đối với hàng triệu gia đình làm ruộng ở Việt Nam, tin ấy không phải là những con số khô khan trên bảng giá. Đó là lời báo trước cho một mùa lỗ lã nữa, sau một năm đã có quá nhiều cay đắng.
Mấy tháng đầu năm, người trồng lúa đã nếm đủ cơn sốt vật tư. Hồi đầu tháng Ba, các đại lý phân bón ở Cần Thơ cho biết chỉ trong vòng một tuần, phân urê tăng trên 200.000 đồng mỗi bao, còn DAP tăng gần 100.000 đồng mỗi bao. Một người nông dân ở đó kể rằng chi phí cho một công lúa đã nhảy từ khoảng 3,5 triệu lên hơn 4 triệu đồng. Đến tháng Năm, phân DAP nhập cảng từ Nga đứng ở mức trên 1,2 triệu đồng mỗi bao, DAP Nam Hàn gần 1,1 triệu đồng. Thuốc trừ sâu và thức ăn gia súc cũng không nằm ngoài cơn sốt ấy.
Chiều giá bán thì ngược lại. Cuối tháng Tư, lúa OM18 ở Cần Thơ chỉ còn chừng 5.800 đến 5.900 đồng một ký, mà thương lái lại chỉ chịu mua lúa đẹp, lúa tốt. Sang đầu tháng Chín, lúa tươi OM34 ở An Giang cũng chỉ quanh mức 6.000 đồng. Trong quý Một, lượng cà phê xuất cảng tăng hơn 12%, nhưng số tiền thu về lại giảm hơn 6%. Gạo cũng vậy, sản lượng giữ vững mà kim ngạch sụt gần 8%. Nông dân làm nhiều hơn, bán nhiều hơn, nhưng túi tiền lại mỏng hơn.
Nhà cầm quyền CSVN và báo chí nhà nước thường giải thích tình trạng này bằng những nguyên nhân bên ngoài. Nào là chiến sự Trung Đông làm nghẽn eo biển Hormuz, nào là giá khí đốt tăng, nào là Trung Cộng hạn chế xuất cảng phân bón. Những yếu tố ấy có thật. Nhưng nông dân nhiều nước khác cũng chịu chung cơn bão giá. Câu hỏi đáng đặt ra là tại sao người làm ruộng ở Việt Nam luôn là kẻ lãnh đủ, còn những ai đứng giữa họ và thị trường thì hầu như không mất gì.
Nguyên nhân đầu tiên nằm ở thế độc quyền. Phần lớn phân urê trong nước do các công ty quốc doanh sản xuất, trong đó có những nhà máy dùng khí đốt khai thác ngay trên thềm lục địa Việt Nam. Thế nhưng khi giá thế giới tăng, giá bán trong nước cũng tăng theo, như thể tài nguyên của đất nước không hề thuộc về người dân. Thêm vào đó, từ giữa năm 2025, phân bón bị đưa vào diện chịu thuế giá trị gia tăng 5%. Rốt cuộc, người làm ruộng phải gánh khoản thuế ấy.
Nguyên nhân thứ hai là sự lệ thuộc vào Trung Cộng. Một phần đáng kể phân DAP, phân kali, thuốc trừ sâu và nguyên liệu thức ăn gia súc phải nhập cảng, trong đó hàng từ Trung Cộng chiếm tỷ lệ lớn. Chỉ cần Bắc Kinh hạn chế xuất cảng phân bón, như đã làm cho tới tháng Tám năm nay, là đồng ruộng miền Tây lập tức chao đảo. Sau hơn nửa thế kỷ hô hào "tự lực tự cường", nền nông nghiệp của một nước xuất cảng gạo hàng đầu thế giới vẫn bị một quyết định ở Bắc Kinh chi phối.
Nguyên nhân thứ ba, và sâu xa nhất, là người nông dân không có tiếng nói. Họ không được làm chủ ruộng đất mà chỉ có quyền sử dụng, vì theo hiến pháp của CSVN, đất đai là "sở hữu toàn dân" do nhà nước quản lý. Họ cũng không có một nghiệp đoàn độc lập để thương lượng giá cả với công ty phân bón hay với thương lái. Hội Nông dân chỉ là một tổ chức ngoại vi của đảng, lo tuyên truyền hơn là tranh đấu cho quyền lợi hội viên. Khi giá lúa rớt, hội chỉ biết mời các công ty về mua lúa và khuyên nông dân bón phân tiết kiệm.
Nghịch lý rõ nhất nằm ở chuỗi phân phối. Tại Sài Gòn, giá gạo bán lẻ có lúc tăng thêm 1.000 đến 2.000 đồng mỗi ký. Thế nhưng khoản tăng ấy bị chi phí chuyên chở và các khâu trung gian nuốt trọn, không hề chảy về túi người trồng lúa. Trong khi đó, chính quyền chỉ đưa ra những lời kêu gọi chung chung như "liên kết chuỗi giá trị" hay "chuyển đổi cơ cấu cây trồng", mà không đụng tới gốc rễ của vấn đề.
Người miền Nam hẳn còn nhớ Luật Người Cày Có Ruộng năm 1970 của Việt Nam Cộng Hòa. Đạo luật ấy đã trao quyền sở hữu ruộng đất cho hàng trăm ngàn gia đình tá điền. Khi làm chủ mảnh ruộng của mình, người nông dân có thể thế chấp để vay vốn, có thể đầu tư lâu dài, và có lý do để gắn bó với đất. Ở Nhật Bản hay Đài Loan, các nông hội có thực lực đã giúp người làm ruộng mua chung vật tư với giá rẻ, bán chung nông sản với giá cao, và vận động quốc hội bảo vệ quyền lợi của mình.
Tất cả những điều ấy đều không thể có dưới chế độ độc đảng. Một khi đảng nắm cả đất đai, cả công ty phân bón, cả hội nông dân lẫn báo chí, thì người làm ruộng không còn chỗ nào để kêu. Họ chỉ còn biết cắn răng chịu đựng, hoặc bỏ ruộng mà đi.
Áp lực kép từ giá vật tư tăng cao và giá nông sản bấp bênh vì vậy không chỉ là chuyện thị trường. Đó là hậu quả của một cơ chế đặt quyền lợi của đảng và các tập đoàn quốc doanh lên trên mồ hôi của người làm ra hạt gạo. Chừng nào người nông dân còn bị xem là đối tượng để vận động thay vì là chủ nhân của mảnh ruộng mình cày, chừng đó cái vòng lẩn quẩn này sẽ còn lặp lại sau mỗi mùa gặt./.
No comments:
Post a Comment