Wednesday, July 22, 2026

MƯỜI BỐN NƯỚC LÊN ÁN, CSVN VẪN IM LẶNG

Bình Luận

Từ trước đến nay, CSVN luôn đặt sự tồn vong của chế độ và mối quan hệ với Trung Cộng lên trên chủ quyền và quyền lợi thiết thân của dân tộc, bất kể ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Cộng uy hiếp, đâm chìm bao nhiêu lần. Diễn biến chung quanh dịp kỷ niệm 10 năm phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực về Biển Đông vừa qua là một ví dụ điển hình.

Trong chuyên mục BÌNH LUẬN hôm nay, kính mời quý thính giả theo dõi bài viết của ĐOÀN KHÔI, thành viên Ban Biên Tập đài ĐLSN, tựa đề "MƯỜI BỐN NƯỚC LÊN ÁN, CSVN VẪN IM LẶNG", sẽ do Vân Khanh trình bày sau đây ...

Ngày 12 tháng 7 năm 2026, đúng vào dịp kỷ niệm 10 năm ngày Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye (PCA) công bố phán quyết về Biển Đông trong vụ Phi Luật Tân kiện Trung Cộng, mười bốn quốc gia đã cùng đưa ra một Tuyên Bố Chung, tái xác nhận yêu sách chủ quyền của Trung Cộng tại vùng biển này là bất hợp pháp. Danh sách ký tên gồm Nhật Bản, Úc, Gia Nã Đại, Estonia, Đức, Ý, Latvia, Lithuania, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Romania, Slovenia, Anh Quốc và Hoa Kỳ. Các quốc gia này khẳng định phán quyết năm 2016 vẫn là cột mốc pháp lý quan trọng, ràng buộc và chung quyết, đồng thời nhấn mạnh tranh chấp hàng hải phải được giải quyết hòa bình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), không hề có cơ sở pháp lý nào cho đòi hỏi của Trung Cộng qua cái gọi là “đường lưỡi bò.”

Đây không phải lần đầu cộng đồng quốc tế lên tiếng về tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Nhưng điều đáng chú ý, và cũng đáng buồn, là trong danh sách mười bốn nước ký tên nói trên, không hề có tên Việt Nam: một quốc gia trực tiếp có tranh chấp chủ quyền với Trung Cộng tại Hoàng Sa và Trường Sa, một quốc gia mà ngư dân từng nhiều phen bị tàu Trung Cộng đâm chìm, phun vòi rồng, uy hiếp giữa biển khơi, lại vắng mặt trong chính tuyên bố nhằm bảo vệ quyền lợi mà lẽ ra họ phải là bên hưởng lợi nhiều nhất.

Sự vắng mặt này không phải ngẫu nhiên. Nhìn lại một thập niên qua, từ Trung Cộng đặt giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, đến các đợt tàu khảo sát Hải Dương Địa Chất xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, cho đến những vụ tàu cá ngư dân miền Trung bị đâm chìm ngay trên ngư trường truyền thống, phản ứng của Hà Nội luôn chỉ dừng lại ở hai chữ "quan ngại sâu sắc". Không một lần nào CSVN dám công khai gọi đích danh Trung Cộng là kẻ xâm phạm chủ quyền, càng lại không dám cùng các quốc gia khác ký vào văn kiện quốc tế minh thị lên án Bắc Kinh. Ngay cả khi Úc gửi công hàm lên Liên Hiệp Quốc bác bỏ yêu sách của Trung Cộng, Hà Nội vẫn chọn im lặng, hoặc cùng lắm là những phát biểu ngoại giao vô thưởng vô phạt qua miệng phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao.

Căn nguyên của sự hèn nhát này không khó tìm. CSVN và Trung Cộng cùng chia sẻ một mô hình cai trị độc đảng, dựa vào nhau để bảo vệ tính chính danh trước làn sóng đòi dân chủ hóa. Đối với giới lãnh đạo Hà Nội, mối quan hệ với Bắc Kinh không đơn thuần là ngoại giao giữa hai quốc gia, mà còn là sợi dây sống còn giữ cho đảng  CSVN tiếp tục nắm quyền. Vì vậy, mỗi khi phải chọn giữa quyền lợi dân tộc và sự an toàn của chế độ, CSVN luôn không ngần ngại chọn vế thứ hai. Đặt sự tồn vong của đảng lên trên chủ quyền lãnh thổ, đó chính là căn bệnh cố hữu, thể hiện trong mọi phản ứng  của Hà Nội trước Bắc Kinh suốt nhiều thập niên qua.

Nghịch lý càng rõ hơn khi so sánh cách CSVN đối xử với chính người dân của mình. Trước ngoại bang, nhà cầm quyền khom lưng, rụt cổ như con rùa co mình trong mai. Nhưng đối với dân trong nước thì lại khác hẳn: ra đường bị công an rình rập phạt vạ như truy bắt tội phạm, về nhà thì tài sản riêng tư cũng bị dòm ngó, đến cơ quan công quyền thì bị hoạnh họe đủ điều. Một chế độ mạnh tay với đồng bào mình bao nhiêu thì lại nhu nhược trước kẻ xâm lấn bấy nhiêu, bởi bản chất của nó là đặt quyền lợi đảng phái lên trên quyền lợi quốc gia.

Mười năm sau phán quyết PCA, thực tế trên Biển Đông vẫn không thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Trung Cộng tiếp tục quân sự hóa các đảo và bãi đá ngầm tại Trường Sa, gia tăng hiện diện của lực lượng hải giám và dân quân biển, đồng thời không ngừng gây áp lực với các quốc gia trong khu vực. Trong bối cảnh đó, tuyên bố chung của mười bốn nước là một tín hiệu tích cực, cho thấy cộng đồng quốc tế vẫn xem trọng luật pháp quốc tế và trật tự dựa trên luật lệ. Nhưng tín hiệu ấy sẽ chỉ càng làm nổi bật sự trớ trêu của một Việt Nam đứng ngoài cuộc, dù là bên bị thiệt hại trực tiếp và nặng nề nhất.

Người dân Việt Nam, đặc biệt là ngư dân miền Trung, mới chính là những người phải trả giá cho sự im lặng của Hà Nội. Mỗi lần tàu cá bị đâm chìm là một lần chủ quyền quốc gia bị xâm phạm mà không có tiếng nói bảo vệ tương xứng từ chính quyền. Trong khi đó, mười bốn quốc gia, kể cả những nước không có tranh chấp trực tiếp tại Biển Đông, vẫn sẵn sàng lên tiếng vì nguyên tắc thượng tôn luật pháp quốc tế. Chỉ có một chính quyền thật sự đại diện cho quyền lợi dân tộc, không bị ràng buộc bởi ý thức hệ hay quyền lợi phe nhóm, mới có thể đứng thẳng lưng trước ngoại bang.

Mười năm nhìn lại phán quyết Biển Đông cũng là dịp để dân chúng Việt Nam nhìn thẳng vào sự thật. Chủ quyền không thể được bảo vệ bằng những lời "quan ngại sâu sắc", mà phải bằng ý chí chính trị thật sự và một thể chế do dân, vì dân.

Chừng nào Việt Nam còn bị cai trị bởi một đảng đặt sự sống còn của mình lên trên vận mệnh đất nước, chừng đó tên Việt Nam sẽ còn vắng mặt trong những văn kiện quốc tế bảo vệ chính quyền lợi của mình./.

No comments:

Post a Comment