Thỏa ước hải phận Việt - Phi trong bối cảnh ủng hộ của quốc tế quanh phán quyết Biển Đông đang được ca ngợi như một bước đi đột phá của Hà Nội. Thế nhưng, bóc tách canh bạc địa chính trị khu vực, đây chính là nước cờ đối phó hướng ngoại của nhà cầm quyền VN nhằm xoa dịu làn sóng bất bình của người dân trước sự thuần phục Trung Quốc, đồng thời khỏa lấp lòng người trước sự kiểm soát ngày càng ngột ngạt của nền công an trị trong nước.
Bằng cách kích hoạt niềm tự hào dân tộc, nhà cầm quyền cố tình làm cho người dân quên đi một thực tế xót xa rằng họ đang bị đàn áp tùy tiện và xâm phạm nghiêm trọng các quyền tự do căn bản trên chính quê hương mình.
Trong phần bình luận hôm nay, mời quí thính giả theo dõi bài viết của Nguyên Cát, thành viên ban biên tập đài ĐLSN với tựa đề “THỎA ƯỚC VIỆT - PHI VÀ PHÁN QUYẾT 2016: NƯỚC CỜ XOA DỊU LÒNG DÂN VÀ SÁCH LƯỢC SIẾT CHẶT NỘI ĐỊA”, sẽ do Nguyên Khải trình bày sau đây.
Sự kiện Hoa Kỳ cùng 13 quốc gia và Liên minh Châu Âu đồng loạt lên tiếng tái khẳng định tính ràng buộc pháp lý của Phán quyết Trọng tài 2016 nhân cột mốc một thập niên đã làm nóng lại bàn cờ địa chính trị Biển Đông. Trong bầu không khí đó, việc Việt Nam chủ động ký kết thỏa ước hợp tác hải phận và tiến hành tuần tra chung với Philippines nhanh chóng được ca ngợi như một bước đi dũng cảm của Hà Nội nhằm thách thức yêu sách phi lý của Bắc Kinh. Tuy nhiên, nếu bóc tách lớp vỏ bọc ngoại giao bóng bẩy để nhìn vào thực tế chính trị quốc nội, một câu hỏi gai góc hơn cần phải được đặt ra: Phải chăng cái bắt tay với Manila thực chất chỉ là một nước cờ tình thế nhằm xoa dịu làn sóng bất bình của người dân, trong khi nhà cầm quyền vẫn âm thầm thực thi các sách lược toàn trị nhằm siết chặt kiểm soát đất nước?
Nhìn lại chiều dài lịch sử, nỗi hoài nghi về tính độc lập của Hà Nội đối với Bắc Kinh chưa bao giờ nguôi ngoai. Lịch sử đã chứng minh một nghịch lý cay đắng: xương máu của người lính ngã xuống càng nhiều ở Hoàng Sa hay Gạc Ma, thì bản chất thuần phục Trung Quốc của giới lãnh đạo lại càng lộ rõ. Kể từ sau Hội nghị Thành Đô năm 1990, khi thế giới cộng sản lâm vào khủng hoảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn gắn chặt vận mệnh của mình vào quỹ đạo ý thức hệ của Trung Quốc để bảo tồn chế độ độc đảng. Phương châm “16 chữ vàng” và “4 tốt” ra đời, vô hình chung trở thành một loại áp lực vô hình khiến Hà Nội gần như không thể phản kháng một cách triệt để trước người láng giềng phương Bắc. Sự phụ thuộc sâu sắc về cả chính trị lẫn kinh tế này tạo nên một thực tế phũ phàng: một thể chế phải dựa dẫm vào kẻ mạnh để tồn tại thì không thể có một nền độc lập tự chủ đúng nghĩa.
Chính vì thế, mỗi khi căng thẳng Biển Đông leo thang, áp lực từ ý thức dân tộc tự phát của người dân trong nước lại trở thành một mối đe dọa trực tiếp đối với tính chính danh của chế độ. Trong bối cảnh đó, Thỏa ước Việt Nam – Philippines xuất hiện như một nước cờ đối phó hướng ngoại. Bằng cách phô diễn một vài hành động tuần tra chung hay lên tiếng dựa vào luật pháp quốc tế (UNCLOS), nhà cầm quyền mong muốn đánh lạc hướng dư luận khỏi những chỉ trích rằng nhà cầm quyền đã quá yếu kém trong việc đối đầu với các tàu hải giám Trung Quốc. Chiêu bài ngoại giao này cố tình kích hoạt và thao túng niềm tự hào dân tộc, ru ngủ lòng người bằng ảo tưởng về một sự "thoát Trung" mạnh mẽ. Sự hào nhoáng tạm thời trên biển được sử dụng như một bức màn che chắn để người dân mải mê nhìn ra khơi xa mà quên mất đi thực tế phũ phàng: chính họ đang bị nhà cầm quyền xâm phạm một cách nghiêm trọng đến những quyền tự do căn bản nhất ngay trên mảnh đất quê hương mình.
Thế nhưng, sự phô diễn mang tính "hướng ngoại" đầy tính toán này thực chất chỉ là tấm bình phong che đậy cho những sách lược độc tài "hướng nội" ngày càng nghẹt thở của nền công an trị. Song hành với những tuyên bố ôn hòa trên biển, ở trong nước, guồng máy quản trị đang không ngừng thắt chặt sợi dây kìm kẹp lên đời sống của người dân. Điển hình là cuộc càn quét quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng, khi ngay cả những dòng bình luận vô thưởng vô phạt trên Facebook cũng bị phạt vạ hoặc bị công an mời lên làm việc. Không dừng lại ở đó, quyền tự do cư trú bị bóp nghẹt bởi những luật lệ kiểm soát gắt gao đối với người đến tạm trú, đi cùng các chiến dịch cưỡng chiếm đất đai thô bạo đẩy người dân vào cảnh khốn cùng. Bên ngoài thì dùng chiếc bánh vẽ chủ quyền để mua chuộc lòng tin của người dân, nhưng đồng thời ở bên trong dựng lên một bức tường sắc máu để bảo vệ tuyệt đối vị trí độc tôn của Đảng — đó mới chính là bản chất thật của chế độ.
Tóm lại, thỏa ước hợp tác với Philippines trong bối cảnh quốc tế ủng hộ phán quyết Trọng tài 2016 chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm. Đối với những người yêu nước đang kiên cường đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam, đây là lời nhắc nhở rằng hành trình phía trước còn rất dài và vô cùng gian truân. Để đối đầu với một nhà cầm quyền ngày càng sắc máu và siết chặt quyền lực độc tôn bằng nền công an trị, những người con yêu nước hiểu rằng họ phải dấn thân mạnh mẽ hơn, sẵn sàng chấp nhận những rủi ro và nguy hiểm lớn hơn trong công cuộc đấu tranh lâu dài nhằm hướng tới đích đến cuối cùng: một Việt Nam thực sự độc lập, tự do và dân chủ vẹn toàn.
Nguyên Cát 18/07/2026
No comments:
Post a Comment