Gần đây nhà nước Cộng Sản Việt Nam đưa ra hàng loạt qui định nhằm kiểm soát an toàn thực phẩm. Tiêu biểu là Nghị định 372/2026/NĐ-CP ngày 29/9/2026, nhằm quy định về hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa...
Mời quí thinh giả theo dõi bài Quan Điểm của Lực Lượng Cứu Quốc về vấn đề này, sẽ do Hải Nguyên trình bày sạu đây
Thưa quí thính giả
An toàn thực phẩm là một vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người. Vì vậy, việc Nhà nước ban hành những quy định nhằm kiểm soát quá trình sản xuất, chế biến, lưu thông và tiêu thụ thực phẩm là cần thiết và chính đáng. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm không chỉ nằm ở mục tiêu của những quy định ấy, mà còn ở cách thức áp dụng chúng trong đời sống thực tế.
Một chính sách dù có mục đích tốt đẹp đến đâu cũng cần được xây dựng và thực thi phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, văn hóa và sinh hoạt của người dân. Đặc biệt, không thể áp dụng cùng một phương thức quản lý cho những doanh nghiệp thực phẩm quy mô lớn và những người lao động nghèo sống bằng nghề buôn bán nhỏ lẻ được.
Từ bao đời nay, thói quen ẩm thực Việt Nam không chỉ được hình thành trong những nhà hàng sang trọng hay những cơ sở sản xuất qui mô. Nó còn hiện diện trong từng góc phố, con đường, khu chợ và làng quê. Đó là nền văn hóa ẩm thực dân gian của Việt Nam. Đó là nồi xôi nóng của bà bán rong lúc sáng sớm, là gánh bún riêu, xe bánh mì, vài cái bánh bao, xe đu đủ bò khô, mấy cái bắp nướng bên vệ đường, vài nải chuối, mấy bó rau, vài ký tôm, cá vừa đánh bắt được đưa ra chợ bán. Những hình ảnh ấy không đơn thuần là hoạt động thương mại. Chúng là một phần của đời sống văn hóa, tập quán sinh hoạt và ký ức của nhiều thế hệ người Việt Nam.
Phải thừa nhận rằng những hoạt động buôn bán nhỏ lẻ này có mức độ rủi ro rất thâp so với những nhà máy giết mổ, chế biến thực phẩm công nghiệp, những dây chuyền đóng gói, bảo quản và phân phối thực phẩm với số lượng lớn. Do đó, cách thức quản lý cần phải phân biệt tương ứng. Không thể vì một vài trường hợp mất vệ sinh mà mặc nhiên xem mọi hàng quán bình dân, mọi gánh hàng rong đều là nguồn nguy hiểm cho xã hội.
Việt Nam có hàng triệu hộ gia đình và cá nhân kiếm sống bằng nghề buôn bán nhỏ lẻ. Đối với họ, một gánh bún, một nồi xôi hay vài ký cá bán ngoài chợ có thể là toàn bộ nguồn thu nhập để nuôi sống cả gia đình. Những người này thường không có vốn, không biết kế toán, không có khả năng xây dựng hệ thống quản lý hàng hóa như doanh nghiệp. Nếu các quy định đòi chứng minh nguồn gốc, hóa đơn, chứng từ, kiểm nghiệm được áp dụng, họ sẽ phải đối diện với những khó khăn rất lớn. Vì vậy đừng để hàng triệu người lao động nghèo phải gánh chịu những thủ tục vượt quá khả năng của họ.
Bà bán xôi mua gạo, đậu, nếp của người bà con, không thể cung cấp giấy tờ phức tạp như một doanh nghiệp. Một người đánh cá đem vài ký cá ra bán liệu có cần phải có hồ sơ thương mại như một công ty thủy sản chăntg? Không thể lấy tiêu chuẩn quản lý doanh nghiệp có vốn và nhân lực, để áp đặt nguyên vẹn lên những người lao động chỉ có đôi bàn tay trắng. Có thể chính những quy định nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng lại cướp mất sinh kế của một bộ phận lớn dân chúng, đẩy họ vào cảnh thất nghiệp hoặc buộc họ phải hoạt động ngoài khuôn khổ pháp luật nữa.
Một điểm rất quan trọng, đó là quyền quản lý trở thành công cụ nhũng nhiễu và lạm quyền của các quan chức thực thi pháp luật. Trong thực tế, người trực tiếp thực thi các quy định thường là cán bộ tại địa phương, cấp xã, phường đến những đơn vị kiểm tra chuyên ngành; họ là những người trực tiếp làm việc với tiểu thương và hộ kinh doanh. Nếu không được quy định rõ ràng, thẩm quyền không được minh bạch và cơ chế giám sát không chặt chẽ, sẽ tạo cớ cho lạm quyền và tham nhũng.
Bà bán bún có thể không biết phải cần những giấy tờ nào. Người bán cá không hiểu cán bộ kiểm tra có quyền gì và không có quyền gì. Trong hoàn cảnh ấy, chỉ một lời đe dọa lập biên bản, tịch thu hàng hóa hay đình chỉ buôn bán cũng khiến người dân khốn đốn. Từ đó phát sinh nhũng nhiễu, vòi vĩnh, đòi tiền để bỏ qua sai phạm, kiểm tra có chọn lọc hoặc trả thù người khiếu nại là những vấn đề không thể xem nhẹ được. Đáng sợ hơn, nếu người dân không có khả năng tự bảo vệ mình, quyền lực hành chính có thể trở thành công cụ gây áp lực lên những người vốn đã ở vị thế yếu nhất trong xã hội.
Một nhà nước pháp quyền phải bảo đảm người thi hành công vụ chịu sự kiểm soát của pháp luật. Không một cán bộ nào được phép tự đặt ra thủ tục, giấy tờ hay khoản thu ngoài quy định. Mọi hoạt động kiểm tra, xử phạt và tịch thu hàng hóa phải có căn cứ, đúng thẩm quyền, đúng trình tự và có cơ chế khiếu nại rõ ràng.
Tóm lại, an toàn thực phẩm là trách nhiệm của toàn xã hội. Nhưng bảo vệ sức khỏe cộng đồng không có nghĩa là được phép xem nhẹ quyền mưu sinh chính đáng của người dân. Một chính sách tốt không chỉ được đánh giá bằng số lượng quy định ban hành, số cơ sở bị kiểm tra hay số tiền phạt thu được, mà còn phải được đánh giá bằng hiệu quả bảo vệ sức khỏe, tính công bằng trong thực thi và tác động của nó đối với đời sống người dân.
Đừng để một gánh bún, một nồi xôi, một xe bánh mì.... ngoài chợ trở thành đối tượng của những thủ tục hành chính vượt quá khả năng của người lao động nghèo. Và quan trọng hơn, đừng để những quy định vốn nhằm bảo vệ nhân dân lại trở thành cơ hội cho một số người có chức quyền nhũng nhiễu, gây khó dễ hoặc tước đi quyền mưu sinh của chính nhân dân. Quản lý thực phẩm phải nghiêm minh, nhưng quản lý con người phải có tình, có lý và có trách nhiệm. Bảo vệ sức khỏe cộng đồng không thể tách rời việc bảo vệ phẩm giá, quyền lao động và cuộc sống của người dân.
Cảm ơn quí thinh giả đã theo dõi bài quan điểm của chúng tôi.
No comments:
Post a Comment