Tuesday, January 13, 2026

Đại Hội 14 và Chiêu Trò Chống Tham Nhũng Của đảng CSVN

Bình Luận

Hơn 30 năm trước, từ thời Đỗ Mười còn làm Tổng Bí Thư, tệ nạn THAM NHŨNG đã được thành phần lãnh đạo chóp bu đảng CSVN xem là một “quốc nạn” có thể làm sụp đổ chế độ. Thế nhưng cho đến ngày nay, tệ nạn này không những đã không chấm dứt mà ngược lại, ngày càng trầm trọng. Cụ thể là trong các văn kiện dự tính được trình bày trong Đại Hội Đảng kỳ thứ 14 sắp khai diễn, “chống tham nhũng” vẫn là một công tác được đưa lên hàng đầu.

Trong chuyên mục BÌNH LUẬN hôm nay, kính mời quý thính giả theo dõi bài viết của THẾ VŨ, thành viên Ban Biên Tập đài ĐLSN, tựa đề “Đại Hội 14 và Chiêu Trò Chống Tham Nhũng Của đảng CSVN”, sẽ do Hướng Dương trình bày sau đây...

Trong khi chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ 14, giới lãnh đạo CSVN lại một lần nữa đặt trọng tâm tuyên truyền vào khẩu hiệu “chống tham nhũng”, coi đó như một thành tựu chính trị và một minh chứng cho quyết tâm tự chỉnh đốn nội bộ. Các tài liệu dự thảo trình Đại hội cho thấy vấn đề tham nhũng được nhắc đến thường xuyên, thế nhưng cách giải quyết vẫn là phương thức quen thuộc, cũ kỹ, và quan trọng hơn hết, là né tránh đề cặp đến cái căn nguyên gốc rễ của tệ nạn này. Theo dõi những tài liệu này, dân chúng dễ dàng nhận ra một nghịch lý: nói nhiều về chống tham nhũng, nhưng hoàn toàn vắng bóng những giải pháp thể chế có khả năng kiểm soát quyền lực một cách thực sự.

Trong “Báo cáo Chính trị”, tham nhũng được mô tả như một nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của chế độ, làm suy yếu lòng tin của nhân dân. Ngôn từ mạnh mẽ, khẩu khí cứng rắn, lập lại những cụm từ quen tai như “kiên quyết”, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Nhưng đằng sau lớp sơn ngôn ngữ ấy, người ta không tìm thấy một cơ chế mới nào nhằm ràng buộc quyền lực, cũng không có một thiết kế kiểm soát giữa các nhánh quyền lực nhà nước. Chống tham nhũng vẫn được trình bày như một chiến dịch đạo đức, chứ không phải một cuộc cải cách thể chế.

“Báo cáo Xây dựng Đảng” đi sâu hơn vào vấn đề, nhưng phạm vi vẫn bị giới hạn chặt chẽ trong nội bộ tổ chức đảng. Những sai phạm, khuyết điểm, tha hóa quyền lực được nhìn nhận chủ yếu như vấn đề kỷ luật, vấn đề phẩm chất đảng viên. Giải pháp vì vậy cũng xoay quanh kiểm tra, giám sát nội bộ, xử lý cán bộ vi phạm theo điều lệ Đảng. Cách nhìn này mặc nhiên coi Đảng vừa là chủ thể quyền lực, vừa là người tự kiểm soát mình, một lối sắp xếp đã bị lịch sử và thực tếchứng minh là hoàn toàn thất bại.

Đáng chú ý hơn nữa, trong “Báo cáo Kinh tế – Xã hội”, tham nhũng gần như chỉ xuất hiện gián tiếp, lẩn khuất sau những cụm từ như “thất thoát”, “lãng phí”, “hiệu quả chưa cao”. Không có một phân tích thẳng thắn nào về mối quan hệ giữa cơ chế phân bổ quyền lực, độc quyền chính sách và sự méo mó của môi trường kinh doanh. Điều đó cho thấy tham nhũng vẫn chưa được nhìn nhận như một vấn đề cấu trúc của mô hình phát triển, mà chỉ là hiện tượng phụ, có thể vá víu bằng vài biện pháp hành chính.

Điểm chung đáng lo ngại của cả ba loại tài liệu vừa kể là sự im lặng gần như tuyệt đối về cải cách thể chế để kiểm soát quyền lực. Không có một gợi ý nào liên quan đến tam quyền phân lập, không có cơ chế đối trọng quyền lực, và càng không có ý niệm về trách nhiệm giải trình trước nhân dân. Quyền lực vẫn tập trung trong tay một đảng duy nhất, vận hành theo nguyên tắc tập trung, khép kín, và tự bảo vệ.

Cũng không có tài liệu nào đề cập đến vai trò giám sát của xã hội. Báo chí độc lập, xã hội dân sự, các tổ chức nghề nghiệp tự do hoàn toàn vắng mặt trong các bản báo cáo. Tư pháp độc lập, một trụ cột không thể thiếu trong cuộc chiến chống tham nhũng ở các quốc gia văn minh, lại bị né tránh như một điều cấm kỵ. Khi tòa án vẫn nằm dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, thì công lý chỉ có thể là loại “công lý có điều kiện”.

Chống tham nhũng theo lề lối hiện nay vì vậy chỉ mang nặng tính chọn lọc và chiến dịch. Ai bị xử lý, xử lý lúc nào, xử lý đến mức độ nào, đều phụ thuộc vào quyết định chính trị từ thượng tầng, chứ không phải vào một quy trình pháp lý minh bạch, bình đẳng. Điều này không những không triệt tiêu tham nhũng, mà còn biến tham nhũng thành công cụ đấu đá quyền lực, tạo ra tâm lý sợ hãi thay vì tuân thủ pháp luật.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, càng hô hào chống tham nhũng, thì các vụ án càng lớn, số tiền thất thoát càng khủng khiếp. Điều đó không phải ngẫu nhiên. Tham nhũng không phải là sự sa đọa cá nhân đơn độc, mà là sản phẩm tất yếu của một hệ thống quyền lực không bị kiểm soát. Khi quyền lực không được giới hạn, khi không có báo chí độc lập để phanh phui, không có tòa án độc lập để xét xử, thì tham nhũng không những tồn tại, mà còn sinh sôi, nẩy nở.

Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng, không có chế độ độc tài đảng trị nào chống tham nhũng thành công một cách bền vững. Những chiến dịch rầm rộ chỉ có tác dụng ngắn hạn, đôi khi còn làm trầm trọng thêm sự tha hóa, vì chúng không đụng đến cấu trúc quyền lực. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Tham nhũng ở đây là “con đẻ” của cơ chế độc quyền chính trị, nơi quyền lực không chịu trách nhiệm trước người dân.

Muốn chống tham nhũng thật sự, phải bắt đầu từ việc phân quyền, kiểm soát quyền lực, và trao quyền giám sát cho xã hội. Không có con đường nào khác. Mọi sự trì hoãn chỉ kéo dài vòng luẩn quẩn cũ, nơi tham nhũng bị lên án bằng lời nói, nhưng lại được nuôi dưỡng bằng chính cơ chế đã sinh ra nó./.

 

No comments:

Post a Comment