Friday, January 9, 2026

Đất Đai Hoang Phế - Dân Lãnh Hậu Quả

Chuyện Nước Non Mình

Tình trạng ruộng vườn của dân bị nhà cầm quyền trưng thu để gọi là “thực hiện dự án”, nhưng nửa chừng dự án bị bỏ ngang, ruộng vườn hoang phế, dân mất kế sinh nhai, nhưng không ai chịu trách nhiệm.

Trong chuyên mục CHUYỆN NƯỚC NON MÌNH hôm nay, kính mời quý thính giả theo dõi bài “Đất Đai Hoang Phế - Dân Lãnh Hậu Quả”, của ĐỖ HOÀNG LAN, thành viên Ban Biên Tập đài ĐLSN, sẽ do Lê Khanh trình bày sau đây...

Trong nhiều năm qua, chuyện dự án bị bỏ dở, đất đai để hoang, nhà cửa xây nửa chừng đã trở thành cảnh quen mắt với người dân từ thành phố lớn cho tới vùng quê, nơi đáng lẽ phải là chỗ làm ăn và sinh sống ổn định. Ban đầu, các dự án này được giới thiệu bằng những lời lẽ rất kêu, nào là đổi mới bộ mặt địa phương, nào là thúc đẩy kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống, nghe qua ai cũng tưởng tương lai sắp sáng sủa hơn. Thế nhưng, thời gian trôi qua, bảng quảng cáo bạc màu, cỏ mọc đầy nền móng, sắt thép rỉ sét, còn người dân thì chờ đợi mỏi mòn, không biết đến bao giờ đất của mình mới được sử dụng cho ra lẽ. Có nơi, ruộng vườn bị thu hồi, tiền đền bù chẳng bao nhiêu, dân mất kế sinh nhai, trong khi dự án nằm im, không sản xuất, không tạo công ăn việc làm, cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho dân chúng trong vùng.

Sự bất mãn không chỉ do chuyện đất bỏ hoang, mà còn ở cảm giác bị đặt ra ngoài lề, xem đời sống của dân chúng chỉ là chi tiết phụ trong những kế hoạch vẽ trên giấy rồi bỏ lửng. Người dân hỏi thì chỉ nhận được những câu trả lời vòng vo, khi thì thiếu vốn, lúc thì chưa đủ giấy tờ, lúc khác lại do điều chỉnh kế hoạch, nghe riết thành quen mà chẳng biết tin vào đâu. Trong khi đó, đất vẫn bị khóa chặt, không trồng trọt được, không xây cất được, muốn bán cũng không xong, muốn ở cũng chẳng yên, cả cuộc sống bị treo lơ lửng theo số phận dự án. Đất đai vốn là nguồn sống, là mồ hôi nước mắt của bao đời, nay trở thành gánh nặng cho chính người từng gắn bó với nó.

Nhiều người đặt câu hỏi vì sao có thể cho phép hàng loạt dự án rầm rộ như vậy, nhưng khi thất bại thì không thấy ai đứng ra nhận trách nhiệm hay bù đắp thiệt hại cho dân. Có dự án được giao cho đơn vị thiếu năng lực, vốn liếng yếu, làm vài bước rồi bỏ, để lại hậu quả kéo dài cho xã hội gánh chịu. Cũng có nơi, dự án bị ngưng vì thay đổi tính toán, nhưng người thiệt thòi vẫn là dân, còn những người ký giấy ngày trước thì đã chuyển đi nơi khác. Cái vòng quanh quẩn ấy khiến người dân mất dần niềm tin, vì họ thấy rõ thiệt hại thì ở dân chúng gánh chịu, còn kẻ chịu trách nhiệm thì đã đổi đi đâu đó, chẳng còm tăm hơi.

Về mặt kinh tế, đất đai “đắp chiếu” là sự lãng phí lớn, khi tài nguyên không được đưa vào sản xuất, không tạo ra của cải, trong khi nhiều nhu cầu thiết yếu vẫn thiếu thốn. Tiền của bị chôn vào những công trình dang dở, trong lúc trường học chật chội, bệnh viện quá tải, đường sá xuống cấp, đó là điều nghịch lý mà ai cũng nhìn thấy. Một nền kinh tế lành mạnh không thể chịu đựng mãi cảnh vốn liếng bị trói chặt trong những dự án chết đứng, chỉ tồn tại trên giấy tờ. Thế nhưng, tình trạng trì trệ vẫn kéo dài, như thể không ai đủ quyết tâm nhìn thẳng vào sai lầm để sửa cho đàng hoàng.

Về mặt xã hội, hậu quả còn sâu rộng hơn, khi cộng đồng bị xáo trộn, người dân mất đất, mất nghề, phải bỏ xứ đi làm ăn xa, trong khi quê nhà thì hoang tàn. Những khu tái định cư thiếu sinh kế, thiếu hạ tầng, trở thành nơi ở tạm bợ, không khác gì cảnh chờ đợi kéo dài vô hạn. Con cái học hành dang dở, người già sống trong bất an, còn thanh niên thì ly hương, để lại phía sau những xóm làng tiêu điều. Đó không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà là sự nứt rạn âm thầm của đời sống xã hội, khó thấy ngay nhưng rất lâu mới hồi phục.

Điều đáng chê trách nhất là cung cách hành xử bỏ ngoài tai tiếng nói của người dân, những người trực tiếp gánh chịu hậu quả từ các quyết định đưa ra. Nếu ngay từ đầu có tính toán cẩn thận, chọn người làm đủ sức, và đặt trách nhiệm rõ ràng, thì đã tránh được nhiều cảnh dở dang. Đằng này, nhiều việc được quyết định nhanh trên bàn giấy, còn đời sống thật thì bị bỏ ngoài tai, đến khi trục trặc mới loay hoay giải quyết. Cách làm đó không chỉ gây lãng phí, mà còn làm sứt mẻ niềm tin giữa người dân và guồng máy điều hành.

Muốn giải quyết tận gốc tình trạng dự án treo và đất bỏ hoang, không thể chỉ nói suông hay kêu gọi chung chung cho xong chuyện. Cần rà soát lại từng dự án, dự án nào không khả thi thì phải mạnh dạn dừng lại, trả đất cho dân. Những người làm ẩu, phê chuẩn sai, để lại hậu quả kéo dài, cần bị nêu rõ trách nhiệm, chứ không thể để mọi chuyện trôi qua theo thời gian. Quan trọng hơn hết là phải đặt đời sống của người dân lên trên những bản vẽ hào nhoáng nhưng rỗng ruột.

Một xã hội muốn yên ổn thì không thể để dân sống mãi trong cảnh chờ đợi và bất an trên chính mảnh đất của mình. Khi đất đai được dùng đúng chỗ, dự án được làm tới nơi tới chốn, và trách nhiệm được phân minh, thì sự phê phán, chê trách tự nhiên sẽ lắng xuống. Ngược lại, nếu tình trạng trì trệ và đùn đẩy còn kéo dài, thì sự bất mãn sẽ tích tụ, âm thầm nhưng rất nguy hiểm. Đó là điều mà bất cứ ai còn nghĩ đến tương lai đất nước đều không thể xem nhẹ./.

 

No comments:

Post a Comment