Wednesday, September 9, 2026

Sau Tháng Tám 1945: Từ Chính Phủ Đoàn Kết Đến Cuộc Thanh Toán Đối Lập

Bình Luận

Kính thưa quý thính giả, nếu tháng Tám năm 1945 đặt ra câu hỏi Việt Minh đã cướp chính quyền như thế nào, thì những tháng tiếp theo lại đặt ra một câu hỏi khó hơn: Sau khi cướp được chính quyền, Việt Minh đã làm gì với những người Việt Nam yêu nước nhưng không cộng sản? Họ gọi hầu hết những tổ chức chống Việt Minh là “Việt gian”, “phản động”, “tay sai ngoại bang”. Phía đối nghịch lại có khuynh hướng xem tất cả những người quốc gia đều là nạn nhân vô tội và mọi hành động của Việt Minh đều xuất phát từ một kế hoạch của cộng sản được định sẵn.  

Mời quý thính giả nghe phần bình luận của Giao Phương Trần, thành viên ban biên tập đài ĐLSN với tựa đề: “Sau Tháng Tám 1945: Từ Chính Phủ Đoàn Kết Đến Cuộc Thanh Toán Đối Lập”, qua sự trình bày của Nguyên Khải  để tiếp nối chương trình tối nay.

Giao Phương Trần

Muốn hiểu chuyện gì xảy ra trong năm 1945–1946, trước hết phải nhớ rằng sau ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Việt Nam chưa phải là một quốc gia thanh bình dưới một chính quyền duy nhất. Miền Nam có quân Anh vào giải giới Nhật, rồi người Pháp trở lại. Miền Bắc có quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng tiến vào theo quyết định của Đồng Minh để tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật. Ở giữa những lực lượng ngoại quốc ấy là hàng loạt tổ chức chính trị Việt Nam đang tranh nhau một câu hỏi sống còn: Ai có quyền đại diện cho nước Việt Nam mới?

Việt Minh có lợi thế rất lớn vì đã cướp được bộ máy cầm quyền tại Hà Nội và nhiều địa phương. Nhưng Việt Minh không phải lực lượng chính trị duy nhất. Việt Nam Quốc Dân Đảng, thường gọi Việt Quốc, có nguồn gốc từ phong trào quốc gia chống Pháp và gắn liền với cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930. Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, thường gọi Việt Cách, cũng hoạt động chống Pháp và có cơ sở ở Trung Hoa. Ngoài ra còn Đại Việt và nhiều tổ chức, nhóm chính trị khác.

Dưới áp lực chính trị phức tạp, đặc biệt trong hoàn cảnh quân Trung Hoa hiện diện tại miền Bắc, Hồ Chí Minh phải thương lượng với Việt Quốc và Việt Cách. Một chính phủ liên hiệp được hình thành. Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Cách, giữ chức Phó Chủ tịch. Nguyễn Tường Tam, tức nhà văn Nhất Linh, một nhân vật quan trọng của Việt Quốc, tham gia chính phủ và giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

Có nhiều lực lượng. Có cạnh tranh. Có thương lượng. Và có cả sự nghi kỵ sâu sắc. Ngày 6 tháng 1 năm 1946 diễn ra cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.  Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ với đại diện Pháp Jean Sainteny. Đây là một quyết định gây tranh cãi dữ dội.

Theo thỏa thuận, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Pháp nhìn nhận là một “quốc gia tự do”, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nhưng nằm trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp. Đổi lại, quân đội Pháp được phép ra miền Bắc thay thế quân Trung Hoa trong việc giải giới quân Nhật. Hồ Chí Minh và những người ủng hộ ông xem đây là một nước cờ chiến thuật: tạm thời hòa với Pháp để quân Trung Hoa rút đi.

Nhưng đối với nhiều người quốc gia, đó lại là một sự nhượng bộ nguy hiểm. Họ đặt câu hỏi rất dễ hiểu: Nếu Việt Nam đã tuyên bố độc lập, tại sao lại ký một thỏa thuận cho phép quân đội của chính cường quốc từng đô hộ Việt Nam trở lại miền Bắc? Không thể chỉ dùng hai chữ “phản động” để xóa câu hỏi ấy khỏi lịch sử. Bởi từ thời điểm quân Trung Hoa rút dần khỏi miền Bắc, cán cân lực lượng trong nội bộ Việt Nam thay đổi nhanh chóng. Việt Quốc và Việt Cách mất đi một chỗ dựa quan trọng.

Việt Minh thì ngược lại, đang kiểm soát chính phủ, công an, các cơ quan hành chính và ngày càng củng cố lực lượng quân sự. Cuộc tranh chấp chính trị bắt đầu chuyển thành xung đột vũ trang. Ở nhiều nơi, lực lượng Việt Minh và lực lượng quốc gia đụng độ nhau. Các cơ sở của Việt Quốc bị tấn công. Nhiều cán bộ phải bỏ chạy sang Trung Hoa. Một số bị bắt. Một số mất tích. Một số bị giết.

Việt Nam lúc ấy đang ở sát ranh giới nội chiến. Tuy nhiên có một thực tế mang tính quyết định: Việt Minh đang nắm bộ máy nhà nước. Khi một đảng chính trị vừa là một bên trong cuộc tranh chấp, vừa kiểm soát công an, hành chính và lực lượng vũ trang, cuộc cạnh tranh giữa các đảng phái không còn diễn ra trên một sân chơi bình đẳng.

Đến giữa năm 1946, không gian dành cho phe đối lập ngày càng thu hẹp. Một biến cố nổi tiếng xảy ra tại Hà Nội tháng 7 năm ấy: vụ Ôn Như Hầu. Nhà cầm quyền Việt Minh tuyên bố khám xét trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng tại số 7 phố Ôn Như Hầu và phát hiện xác người cùng bằng chứng về những hoạt động bắt cóc, tra tấn và giết người và đổ vấy cho Việt Quốc là một tổ chức tội phạm phản cách mạng. Nhưng nhiều tác giả và nhân chứng thuộc phía đối lập lại cho rằng sự việc đã bị dàn dựng hoặc khai thác để tạo lý do triệt hạ Việt Quốc.

Việt Nam Quốc Dân Đảng đã chống thực dân Pháp và đã có những người bước lên máy chém trước khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời.

Những tiếng hô của Nguyễn Thái Học và các đồng chí trước khi chết tại Yên Bái năm 1930 đã trở thành một phần lịch sử chống thuộc địa của dân tộc. Không thể vì họ không phải cộng sản mà xóa phần lịch sử ấy. Mời đón theo dõi loạt bài cuối: “Từ Chính Phủ Liên Hiệp Đến Chế Độ Độc Tài”.

 

No comments:

Post a Comment