Thưa quý thính giả, để kết thúc chương
trình phát thanh tối nay, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng”, phóng viên
Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà
thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó
Đỗ Văn Phúc
Hỏi: Thưa ông, hôm nay xin được tiếp tục với đề tài cấu trúc của một câu văn. Trước tiên, nói về các dấu. Thưa ông, Các dấu trong câu văn có tầm quan trọng thế nào?
Đáp:
Một bản văn phải có các dấu (punctuation marks). Dấu chấm để dứt câu, dấu phảy hay chấm phảy để ngắt câu, dấu hai chấm sau liệt kê, dấu ba chấm thay chữ vân vân, dấu đơn cho một ý phụ thuộc, dấu ngoặc kép cho cân trích dẫn...
Các dấu đi liền ngay sau các chữ. Sau các dấu, phải chừa một khoảng ngắn (space) và chỉ một mà thôi trước khi viết chữ hay câu khác.
Dấu chấm ( . ) the period, là dấu thường dùng nhất.
Mỗi một câu đầy đủ phải được kết thúc bằng một dấu chấm. Mệnh đề độc lập coi như một câu cũng chấm dứt bằng một dấu chấm. Dấu chấm cho phép người đọc dừng lại hoàn toàn trước khi đọc câu khác.
Ví dụ 1: Tôi đã hoàn tất công việc.
Nếu là câu hỏi, thì dùng dấu hỏi cuối câu.
Ví dụ 2: Khi nào anh lại đi?
Nhưng nếu là một câu hỏi gián tiếp nên phải dùng dấu chấm thay vì dấu hỏi.
Ví dụ 3: Anh Ba hỏi tôi khi nào thì về.
Nếu là một câu than vãn, nên dùng dấu than cuối câu.
Ví dụ 4: Trời làm mưa buồn quá!
Nếu một liệt kê chưa hết chi tiết thì dùng ba dấu chấm hoặc chữ ‘vân vân’ rồi chấm câu.
Ví dụ 5: Hôm nay sẽ làm việc nhà, lau chùi phòng ốc, kê lại tủ bàn ...
Hoặc: Hôm nay sẽ làm việc nhà, lau chùi phòng ốc, kê lại tủ bàn vân vân.
Khi một câu kết thúc bằng một chữ cuối có dấu chấm, thì không thêm dấu chấm khác nữa.
Ví dụ 6: Ông Hùng mới nhận được bằng Ph.D.
Thành trì này bị tàn phá trong trận đánh năm 400 A.D.
Trong hai trường hợp trên, chữ Ph.D. và A.D. đã có dấu chấm cuối chữ D nên không cần thêm một dấu chấm câu khác.
Nếu các câu trọn nghĩa nằm giữa các dấu ngoặc hay dấu trích dẫn, phải đánh dấu chấm trước khi đóng ngoặc hay đóng dấu trích dẫn.
Ví dụ 7: Bác ba nói rằng: “Ngày mai trời lại sáng.”
Nếu một câu đã tròn nghĩa nằm trong hai dấu ngoặc đơn (parentheses), thì dấu chấm sẽ nằm bên trong ngoặc đơn cuối.
Ví dụ 8: Cẩn thận về chuyện anh Hai nhé. (Chuyện này chỉ gây buồn thêm.)
Nhưng nếu là câu không đủ (không phải là một câu trọn vẹn mà chỉ dùng để bổ túc ý nghĩa của chữ đứng trước nó) thì dấu chấm nằm bên ngoài dấu ngoặc.
Ví dụ 3: Cẩn thận về chuyện anh Hai nhé (chuyện chẳng vui chi).
Nếu có một câu trọn vẹn (với hai dấu ngoặc mở và đóng) nằm lọt giữa một câu khác thì câu này không cần viết hoa chữ đầu câu và cũng không có dấu chấm. Dấu chấm dành cho câu chính.
Ví dụ 9: Khi mùa hái nho ở Pháp (chúng tôi từng ở Pháp nhiều năm) gần kề, người ta bắt đầu mở hội hè nhảy nhót.
Hỏi: Thưa ông, hai dấu phẩy và chấm phẩy có dùng như nhau hay là có sự khác biệt nhất định nào đó không?
Người ta quen dùng dấu phảy mà ít quan tâm cách sử dụng dấu chấm phảy trong các bài viết.
Dấu phảy ( , ) The comma.
Dấu phảy dùng để tách riêng từng khoản, mục trong một dãy sự việc hay sự vật. Nó cho phép người đọc tạm dừng lại chớp nhoáng.
Khi liệt kê có trên hai mục, dấu phảy phải kèm sau nó liên tự ‘và’ ở mục cuối cùng.
Ví dụ 1: Chị Hai đi chợ mua cá, thịt, rau, sữa, và kem.
Giữa hai sự vật liên đới với nhau thì không dùng dấu phảy.
Ví dụ 2: Tôi đã gọi các món cá chiên, tôm lăn bột, rau xà lách và nước sốt, và kem tráng miệng.
Để ý: Món xà lách đi đôi với nước sốt nên nối nhau bằng chữ “và’. Còn chữ “và” đứng trước chữ kem là để cho thấy đây là món riêng biệt cuối cùng. Nhưng phải có dấu phảy giữa nước sốt và kem tráng miệng vì hai món này riêng biệt nhau.
Dùng dấu phảy khi muốn nối hai mệnh đề độc lập hay hai câu thành một.
Ví dụ 3 : Tôi thích món đậu, nhưng tôi không ưa món sốt cà.
Trong văn phạm Mĩ, dấp phảy trước liên tự được gọi là ‘serial comma.” Hay còn gọi là “Oxford Comma.” Trên lý thuyết, văn phạm Anh không dùng dấu phảy trước chữ ‘và,’ nhưng thực tế thì người ta vẫn viết theo cách Mĩ.
Dấu chấm phảy ( ; ) The semicolon
A. – Dấu chấm phảy được dùng nối hai mệnh đề độc lập với nhau mà không dùng các liên tự. Hai mệnh đề đó phải chứa đựng một nội dung liên quan với nhau. Hai mệnh đề mà nội dung không liên quan, coi như hai câu; chúng phải được tách ra bằng dấu chấm.
Ví dụ 1: Ông Donald Trump là một tỷ phú; ông cũng là một chính trị gia thành công.
Ví dụ 2: Có người đến đó bằng xe hơi; nhiều người khác thì đi máy bay.
Khi hai mệnh đề có chung một chủ từ, phải nối nhau bằng liên tự “và” mà không dùng dấu chấm phảy.
Ví dụ 3: Tôi ngồi bên cô ta trên cái ghế dài và bắt đầu kể cho cô nghe về chuyến du lịch của tôi.
B.- Dấu chấm phảy giữa hai mệnh đề có thể thay thế bằng dấu phảy kèm liên tự ‘và.’
Ví dụ: Tôi ngồi bên cô ta trên cái ghế dài; cô kể cho tôi nghe về chuyến du lịch của cô.
Hoặc: Tôi ngồi bên cô ta trên cái ghế dài, và cô kể cho tôi nghe về chuyến du lịch của cô.
Sau đây, xin ghi thêm một ví dụ trường hợp hai mệnh đề độc lập, hay hai câu có liên đới với nhau, có thể dùng dấu chấm phảy hay thay bằng dấu phảy và liên tự ‘và.’
Vi dụ : Thái Thanh là một danh ca; bà thành công trong từng nốt nhạc .
Hoặc: Thái Thanh là một danh ca, và bà thành công trong từng nốt nhạc.
Chúng ta thấy trong các câu trên, các mệnh đề có thể đứng riêng mà vẫn đủ nghĩa, nhưng nếu tách ra hai câu, nó không nhấn mạnh sự liên quan với nhau. Dấu chấm phảy làm chức năng nối sự liên hệ giữa các mệnh đề trong câu.
Hỏi: Có trường hợp nào dấu chấm phẩy đi cùng liên tự không?
Đáp:
C.- Trong những câu mà mệnh đề đi sau lại bắt đầu bằng những liên tự như: dù sao, ngoài ra, tuy thế, vân vân; thì hai mệnh đề phải có chấp phảy ở giữa.
Ví dụ: Tôi thích ăn sầu riêng; tuy nhiên, tôi không chịu được mùi của nó.
Hoặc: Bắt đầu một nghề nghiệp là khó khăn; hơn thế nữa, nó dời sự bền chí.
Trong trường hợp câu dài có vẻ phức tạp, trong đó có mệnh đề nào đó đã dùng các dấu khác, thì phải dùng dấu chấm phảy để tách hai mệnh đề cho rõ ràng, không rối rắm.
Ví dụ: Có người thì viết bài bằng máy chữ, máy điện toán, hay cả với cái tablet; trong khi có những người, nại ra lý do này nọ, chọn cách viết đơn giản trên giấy tập bằng bút mực hay bút chì.
Hoặc: Tôi thích những con bò: chúng cho ta sữa, rất bổ dưỡng; chúng cho ta thịt, rất ngon miệng; chúng cho ta da, mà dùng đóng giày dép rất bền.
Hoặc: Những ngày ghi nhớ trong đời tôi là ngày 1 tháng 6, 1946; ngày 20 tháng 4, 1969; ngày 3 tháng 5, 1969; ngày 9 tháng 5, 1990.
Hỏi: Thưa ông, tôi nghe nhiều lần ông gọi là dấu phảy (chữ a không phải â). Không rõ có nghe lầm không, vì từ xưa đến nay, chúng tôi hay thấy người ta dùng chữ phẩy (chữ â dấu hỏi). Vậy theo ông thì chữ phảy là a hay â dấu hỏi?
Đáp:
Trước đây, tôi vẫn viết hay đọc là Phẩy (có dấu ^). Nhưng vài năm nay, sau khi tra cứu và dọ hỏi ý kiến các thân hữu, tôi tìm ra nguyên từ của nó là PHẢY.
Các tự điển xưa đều viết là Phảy, nhưng trong cuốn Việt Hán của cụ Huỳnh Minh Xuân và Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ thì có cả Phảy lẫn Phẩy. Việt Nam Tự Điển của Tiến Đức thì chỉ có Phẩy. Cuốn Sổ Tay Chính Tả do nhóm Hùng Việt soạn thảo thì chỉ có chữ Phảy.
Một lí do mà chúng tôi đoán (chỉ dám đoán chứ không khẳng định), đó là do người Bắc có khuynh hướng phát âm AY thành ÂY.
Ví dụ: Hết thảy/hết thẩy, số bảy/số bẩy, bẻ gãy/bẻ gẫy, Mày tao/mầy tao, chúng bay/chúng bây, vảy cá/vẩy cá, này nọ/nầy nọ ....
Quí vị có để ý nghe ông xướng ngôn viên giới thiệu chương trình này cũng nói Bảy thành Bẩy đấy. Cũng như rất nhiều chữ khác mà do các giọng Nam Bắc khác nhau mà thêm chữ mới. Ví dụ; Nhân/nhơn, Chân/chơn, Nguyên/ngươn, Lệnh/lịnh, Lãnh/lĩnh... và do ký hụy tên các vua chúa: Phúc/phước, Hoàng/huỳnh, Chu/châu, Hồng/hường...Có lẽ chúng ta sẽ bàn trong kì tới.
No comments:
Post a Comment