Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó…
Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về đề tài “I” ngắn hay “Y” dài: Đúng và Sai?
Việc viết ‘I’ hay ‘Y’ đã được nhiều học giả đề cập đến và là đề tài bàn cãi gay go từ nhiều năm trời – và có lẽ sẽ cón lâu mới đi đến đồng thuận. Chúng tôi có đọc nhiều bài của vài học giả; nhưng nặng về lý thuyết, phức tạp, rối ren và dĩ nhiên rất khó nhớ hết các qui tắc và bất qui tắc. Bài này không có tính cách khảo cứu, thuyết luận mà chỉ là một ý kiến nhỏ nhoi nhằm giản lược vấn đề; để cho bất cứ ai muốn học tiếng Việt - từ các học sinh tiểu học đến người mới biết chữ - dễ dàng thấu hiểu và áp dụng thay vì phải mày mò nhiều quy tắc và ngoại lệ phức tạp.
Chúng tôi rất tâm đắc với vài khảo hướng muốn viết ‘I’ một cách đồng nhất cho tất cả mọi trường hợp khi “âm ‘I’ là nguyên âm hay phần âm chính của âm tiết” không phân biệt chữ thuần Nôm hay chữ Hán Việt; chỉ có một ngoại lệ là dùng ‘Y’ cho những chữ theo cách đọc mà họ gọi là cách chúm môi.
Tiếng Việt có các chữ cái như sau:
1.- Sáu nguyên âm chính: A, E, I, U, O, Y; sáu nguyên âm phụ là: Ă, Â, Ê, Ư, Ô, Ơ.
2.- Mười bảy phụ âm chính: B, C, D, Đ, G, H, K, L, M, N, P, QU, R, S, T, V, X; chín phụ âm ghép là: CH, GH, GI, KH, NH, NG, NGH, TH, TR.
1.- Hai nguyên âm I và Y đứng sau nguyên âm A và U cho cách đọc và có nghĩa khác nhau, nên phải phân biệt, viết cho đúng. Đây là điều không thể tranh cãi.
Ví dụ; Tai – Tay, Mai – May, Tui – Tuy, Thúi – Thúy, Hủi – Hủy...
3.- Các nguyên âm I và Y không bao giờ đi theo sau các nguyên âm E, Ă, Ê; và không theo sau phụ âm C. Điều này cũng không cần phí thì giờ để bàn tới.
4.- Chỉ có nguyên âm Y theo sau phụ âm Â; không có nguyên âm ‘I’.
Ví dụ: Đây đó, sợi Mây, nhìn Thấy, vui Vầy...
5.- Chỉ có nguyên âm I đứng sau các nguyên âm Ư, Ô, Ơ; không có nguyên âm ‘Y’.
Ví dụ: Khung Cửi, hít Hửi, Ôi Thôi, đôi Môi, Lơi lã, áo Tơi, chào Mời.
5.- Chỉ có nguyên âm I đứng sau các phụ âm: B, D, Đ, G, GH, N, NG, NGH, P, PH, R, S, TH, TR, V, X , không có nguyên âm ‘Y’.
Ví dụ: Bi quan, Di chuyển, Đi lại, Gìn giữ, Ghì chặt, Ghi nhớ, Giặt Giũ, Gia đình, Nịnh bợ, Niềm nở, Ping-pong, cục Pin, Phi lộ, Phiên âm, học Phí, Rình mò, Rỉ rả, Sĩ số, Bác Sĩ, Thi ca, Trí tuệ, Vĩ tuyến, Vĩ đại, Xin xỏ, Xinh đẹp, Xiết tay...
4.- Rốt cuộc, chỉ còn trường hợp các phụ âm: H, K, L, M, QU, T mà dù viết I hay Y sau chúng, cách đọc cũng không khác nhau. Vây thì, khi nào thì viết với I, khi nào viết với Y; tại sao thế?
Nếu cứ theo thói quen mà giải thích chữ Mỹ quốc, Kỹ sư, Hy vọng, viết với Y dài đẹp, dễ nhìn hơn Hi, Mĩ, Kĩ; thì tại sao không viết các chữ Bác sỹ, Vỹ tuyến, Đỹ điếm, tô Mỳ, My mắt thay cho Bác sĩ, Vĩ tuyến, Đĩ điếm, bát Mì, Mi mắt?
Nếu chịu khó tìm trong các cuốn tự điển đầu tiên của tiếng Việt, chúng ta sẽ thấy hầu như chữ I được dùng phổ biến; chỉ thấy Y trong vài trường hợp. Không biết từ lúc nào, người ta đã đổi chữ ‘I’ thành ‘Y’ trong nhiều chữ.
Những chữ đặc biệt: Có những trường hợp mà các nhà ngôn ngữ học Việt Nam gọi là những chữ khi đọc, phải chúm môi (như khi chúng ta huýt sáo). Họ đề nghị viết chữ ‘Y’ thay vì ‘I’. Ví dụ: Nguyệt, Huyên, Luyến, Tuyến, Tuyết, Quyết Liệt, Huỳnh, Quỳnh, Thuyền Quyên, Buýt (xe bus), nhạc Tuýt, tu huýt.
Chúng tôi dùng sáu cuốn tự điển giá trị sử dụng thời VNCH để chứng minh.
|
Tham khảo |
Chỉ dùng I |
Chỉ dùng Y |
Vừa I, vừa Y |
|
Tự Điển Việt Bồ La của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, Roma, 1651. |
Sau các phụ âm H, K, L, M, QU, T, Tr, Th, V, và khi nó đứng một mình (í nghĩ, í chí). |
Khi nó đứng đầu chữ (Yêm, Yết, Yêu...) |
Không có |
|
Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Của, Sài Gòn - 1895. |
Sau các tất cả phụ âm: H, KH, M, NG, QU, T, TH, Tr, V, và khi nó đứng đầu chữ (Ích, Im, Ỉn, Ít...) |
Khi nó đứng một mình( Y, Ý, Ỳ...) |
Sau các phụ âm K và L |
|
Dictionnaire Annamite-Francais của J. Bonet, Paris 1899. |
Sau các phụ âm H, K, M, QU, T, TR, TH, V |
Khi đứng một mình hay đứng đầu chữ. |
Sau phụ âm L, và trong những chữ đọc chúm môi |
|
Petit Dictionnaire Annamite-Francaise, Genibrel, 1906 |
Sau các phụ âm H, L, M, QU, T, TR, TH, V |
Chỉ có một chữ Lý duy nhất. |
Khi nó đứng một mình |
|
Việt Nam Tự Điển của Khai Trí Tiến Đức, Hà Nội 1931. |
Sau các phụ âm H, L, M, QU, T, TR, TH, V |
Sau phụ âm K |
Khi đứng đầu chữ |
|
Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức và Lệ Ngọc Trụ, Sài Gòn 1970 |
Sau các phụ âm K, TR, TH, V |
|
Sau các phụ âm H, M, QU, T, và khi đứng đầu chữ |
|
Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh, Hà Nội, 1930. |
Sau các phụ âm QU, TH, TR, V |
Sau các phụ âm H, K, L, M |
|
Quí vị nào cần biết chi tiết, xin tham khảo Phụ Bản 1 bên dưới.
Nhận xét.
1.- Từ khởi đầu của chữ Việt, chỉ thấy dùng nguyên âm ‘I’, qua những thập niên 1930s, 1940s mới thấy dùng thêm nguyên âm ‘Y’ song song với ‘I’.
2.- Trong Hán Việt Tự Điển, đa số những chữ có gốc từ Hán Tự viết với ‘Y’.
3.- Phải ta tôn trọng cách viết danh từ riêng mà người ta đã chọn. Ví dụ; Nguyễn Ngu Í, Huình Tịnh Của, Nguyễn Sỹ Tế. Tuy nhiên, khi có người cho rằng chữ Mỹ là danh từ riêng tên của nước Hoa Kỳ thì chúng tôi không đồng ý. Tên chính thức là The United States of America, hay là America. Người Trung Hoa đọc là Mê-Li-Ca; và viết là 美利加, rồi ông bà xưa của chúng ta đọc thành Mỹ-Lợi-Á. Chữ 美 này người Hoa đọc là MEI, nhưng người Viêt đọc là Mỹ hay Mĩ!. Vậy, Mỹ không hề là tên gốc của nước America. Nhưng thôi, đã viết Mỹ (hay Mĩ) thì cũng không sao, cả hai đều đúng theo sách vở. Cũng như trường hợp “Italy” Chữ đúng phải là Í-Đại-Lợi. Chúng tôi vẫn muốn dùng tên gốc của các quốc gia thay vì đọc theo phiên âm Hán Việt.
Theo tài liệu do Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang ở San Jose soạn vào năm 2017, thì đã từng có khuyến nghị của Hội Nghị Thống Nhất Ngôn Ngữ (1956) và Ủy Ban Điển Chế Văn Tự là dùng cách viết theo như trong Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức.
Vì chưa có qui tắc chính thức nào để viết với ‘I’ hay ‘Y’, nên ai muốn viết ‘I’ hay ‘Y’ thì tùy ý; không có vị giám khảo nào phán cho ai sai, ai đúng cả. Nhưng xin chớ thấy chữ mình chưa biết là gán bừa ‘chữ Việt Cộng.’
Thử đề nghị một cách viết đồng nhất:
1.- Nguyên tắc chung: Dùng mẫu tự ‘I’ cho các tất cả các trường hợp khi các chữ có hai mẫu tự ‘I’ hay ‘Y’ đều đọc giống nhau, và có ý nghĩa như nhau.
11. Khi đứng đầu trong một chữ (không có mẫu tự nào ở trước hoặc khi không có mẫu tự nào ở trước và theo sau nó)
Ví dụ: I phục, Í nghĩa, Ỉ lại, Im lặng, Inh ỏi…
12. Mẫu tự ‘I’ hay ‘Y’ đều đọc giống nhau khi đứng sau tất cả các phụ âm.
Ví dụ: Bỉ cực, Trái bí, Di chuyển, Đi lại, Ghi nhớ, Hi hữu, Ki lô, Lí luận, Mĩ miều, Mĩ quốc, Quí vị.
2.- Các ngoại lệ:
21.- Mẫu tự ‘I’ hay ‘Y’ có khi đọc khác nhau và có nghĩa khác nhau trong các trường hợp khi đứng sau mẫu tự A, U.
Ví dụ: Hai -/- Hay, Mai -/- May, Ủi -/- Ủy, Uy -/ Ui, Thúi -/ Thúy, Tái -/- Táy, Mái -/ Máy, Lái – Láy, Lụi -- Lụy, Hủi -/ Hủy, Ngui -/- Nguy, Túi -/- Túy, Xúi -. Xúy.
22.- Ngoại lệ của trường hợp mẫu tự ‘Y’ đứng kèm giữa hai nguyên âm U và Ê với cách đọc “chúm môi” như đề nghị của tác giả Trần Vinh ở phần đầu bài; Theo tôi cũng có thể thay bằng mẫu tự ‘I’ và cách đọc cùng ý nghĩa không khác nhau.
Ví dụ: Quyến Luyến- Quiến Luiến, Nguyên - Nguiên, Uyển chuyển - Uiển chuiển, Huấn luyện - huấn luiện.
Đó, quí vị thấy, mẫu tự ‘I’ có thể dùng cho hầu hết mọi trường hợp, chỉ trừ hai ngoại lệ. Đơn giản thế thì thôi chứ. Qui tắc chung càng áp dụng cho nhiều trường hợp và ngoại lệ càng ít thì càng dễ học, dễ nhớ.
Mời quý vị xem qua vài đôi chữ sau:
I sĩ - y sĩ, kĩ sư - kỹ sư, í tưởng - ý tưởng, nỉ non - nỷ non, mi miều - mỹ myều, Iêu đương – Yêu đương...
Chữ nào đúng, chữ nào sai? Đánh giá đúng sai dựa trên tiêu chuẩn nào, qui luật nào? Xin thưa, chưa hề có qui luật nào hay văn bản về cách dùng có tính cách hợp pháp để đem ra áp dụng chung cả. Người Việt đã nói và viết theo thói quen từ hàng trăm năm nay để chúng ta có thể tạm chấp nhận một cách viết quen thuộc.
Có thể mới đầu, quí vị thấy các chữ ‘iêu nhau, í nghĩa, kĩ sư…” chưa quen! Nhưng qua thời gian rồi mọi người nhìn quen mặt chữ và sẽ cảm thấy quen dần và thấy đẹp thôi. Quí vị nào muốn viết theo kiểu của mình thì cứ tùy nghi. Chúng ta tôn trọng quyền tự do lựa chọn, miễn nghĩa của chữ và cách đọc không thay đổi. Nhưng cần có những nguyên tắc được dạy và áp dụng trong học đường, truyền thông, công quyền để dần dần đi đến sự đồng nhất.
Khởi đi từ khi hai Giáo Sĩ Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes soạn ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam bằng mẫu tự Latin, đã có biết bao nhiêu thay đổi qua gần 400 năm và vẫn còn nhiều điểm cần sửa lại cho hợp lí hơn, đáp ứng nhu cầu và phương tiện của thời đại mới.
Đỗ Văn Phúc
___________________________________________________________
Phụ Bản 1: Chi tiết về cách viết các nguyên âm I và Y trong các tự điển,
1.- Tự Điển Việt Bồ La (Dictionarium Annnamiticum Lusitanum, et Latinum, 1651) của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes: hoàn toàn dùng nguyên âm ‘I’ trừ trường hợp những chữ bắt đầu bằng nguyên âm ‘Y’ như Yếm, Yên, Yến, Yết hầu, Yêu, Yếu, Yểu (Trang 350).
· H: Hi, Hỉ, hoan Hỉ (trang 322).
· Í (Í nghĩ), vô Í, đã hiểu Í (trang 349).
· K: Kí (biên kí), Kí gửi, Kì hẹn, thần Kì, hương Kì Nam, thổ Kì, Kì đạo, Kì mệnh (Trang 378), Kinh Kì, ngoại Kỉ (trang 379).
· L: Li (nước Cao Li), vật Lí, địa Lí (trang 412),
· M: Mí (mí mắt), Mĩ (tốt), Mị, phi Mị (béo) (trang 466).
· NG (chữ đọc chúm môi): trạng Nguiên, Nguiên thủy, Tật Nguiền, Nguiện (trang 539)
· QU: Chỉ thấy dùng ‘I’: Qui, Quí, Quì, Quỉ, Quĩ, Quính, Quuển, Quiền
2.- Tự điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Của (Sài Gòn - 1895). Hoàn toàn dùng ‘I’ trừ một số sau phụ âm K và L.
· H: Vua Phục Hi, Hi sinh, Khang Hi, Hi (thiếu), Hì hợm, du Hí, hoan Hỉ (trang 416).
· Khi đứng một mình hay khi nó là chữ cái đầu của chữ thì có lúc I có lúc Y: Ích, In, Ím (ém), Inh ỏi, Ỉnh (mùi hôi), Ít, Ịt (tiếng heo ụt ịt), Ỉu (chưa khô) (trang 466 -467); Y (nương theo), qui Y, Y (áo), Y (làm thuốc, trị bệnh), Y (nó), Í/Ý (lòng dạ, ý nghĩ), Ý (cây bo bo), Ỳ ạch, Ỷ lại, Ỷ (ghế dựa) (trang 463).
· K: Khi thì dùng ‘I’ như Ki (hàng dệt bằng lông chiên), Kì (lá cờ), Ki (cái ki đựng đồ), Kị (cỡi ngựa), Kị (kiêng cữ), Kí (biên, ghi nhớ, bút kí, sử kí, kí tên...), Kí thác, Kì lạ, Kì hạn, (trang 509 -510), Kỉ (giềng mối, Kỉ cang, Kỉ lưỡng), Kỉ là ghẻ, Kỉ trong thập can như năm Kỉ Sửu, Kỉ là bao nhiêu (trang 511).
· K: Khi thì dùng ‘Y’ như Kỳ (muông kỳ như kỳ lân, kỳ đà), Kỹ vãng (việc đã qua), Kỳ (bàn cờ, Kỳ (đất kinh thành), Kỳ (loài cây cỏ, Huình Kỳ: câu cỏ vàng), Kỳ là cầu xin, Kỳ là nhánh như Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Kỳ là cõi, ngàn dặm. (511).
· KH (chữ đọc chúm môi): Khuia (đêm tối), Khuiếc (cái vòng nhỏ) (trang 505), Khuinh (vui mừng), Khuỉnh (một khoảng) (trang 506).
· L: Khi thì dùng ‘I’ như Li là rào dậu, Li rượu, Li (đơn vị đo như phân li.
· L: Khi thì dùng ‘Y’ như Ly là con cáo, Ly là trái vải, Lý như Lý lẽ, địa lý, kinh Lý, biện Lý (trang 562), Lý là dặm, Lý là một họ (như Lý Tòng Bá), hoa Lý, Lỳ lợm.
· M: Chỉ thấy dùng ‘I’ như Mi là mày, lông mi, Mi là trói buộc, Mị là nịnh hót, Mí là bìa như giáp mí, Mì như sợi mì, Mĩ là xinh tốt như Mĩ nữ, Mĩ quan, hoa Mĩ (trang 645 -646).
· NG (chữ đọc chúm môi): Nguịch (một trợ từ), Nguít (một cách nhìn nửa con mắt) (trang 724)
· QU: Chỉ thấy dùng ‘I’: Qui, Quí, Quì, Quỉ, Quĩ, Quính, Quít, Quiền là siêng năng viết I, nhưng Quyền là quyền lực viết với Y, chim Quiên, vừa I vừa Y, và một số chữ đọc chúm môi như Quyển, Quyết, Quyệt.
· T, TH, TR, V: Chỉ thấy dùng ‘I’.
3.- Dictionnaire Annamite-Francais của J. Bonet (Paris 1899). Đa số dùng ‘I’.
· H: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm H. Hi (hi hữu), Hi (đau buồn), Hi (Hi sinh), Hí (chơi), Hỉ (vui) (trang 251), ngoại trừ những chữ đọc chúm môi.
· H (chữ đọc chúm môi): Huyên, Huyền, Huyện, Huyễn, Huyệt, Huyết, (275- 276); Huịch, Huình (màu vàng, vua) (trang 276)
· Y (áo), Y theo, Y học, Y là nó, Ý tưởng, cỏ Ý, Ỷ lại, Ỷ là cái băng ghế, Ỷa (đại tiện), Yêm, Yếm, Yểm... (trang 286); Ym mát, Ym vắng (trang 289).
· K: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm K: Kỉ (kỉ xảo), Kỉ nữ (gái điếm), Kỉ (niên kỉ), Kị (cỡi ngựa), Kị (kiêng Kị), Kí (gieo giống), Kí (ghi chép, Kí gửi), Kì (Kỳ lạ), Chu Kì, Kì Hạn, Kì (vùng như Bắc Kì) (trang 319).
· L khi thì với ‘I’ theo sau: Li (nói nhiều),Li (một loài chim), Li (từng giọt), Li (sang, đep, Cao Li), Li (rổ tre), Li (xẻng cuốc...), Li (nhà ở nông thôn), Li (đơn vị đo như mi li mét) (trang 354)
· L khi thì với ‘Y’ theo sau: Ly (cái Ly), Ly (trái vải), Ly (con chồn), Lý (mộc mạc, quê mùa), Lý (một dặm, xa xôi), Lý (luật, Lý lẽ), Lý (họ Lý), Lý (dây buộc), Lỳ (Lỳ lợm) (trang 354).
· M: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm M: Mi (Mi như mày tao), Mi (thanh ngang ở cửa), Mi (bờ bãi), Mi (bột), Mi (không quan trọng), Mị (lộn xộn), Mị (Mị dân), Mị (mộng Mị), Mí mắt, Bột Mì, Mĩ nữ, Mĩ Quốc, Hoa Mĩ (trang 413 -414).
· QU: Chỉ thấy dùng ‘I’: Qui, Quí, Quì, Quỉ, Quĩ, Quính,Quình, Quít, Quí, trừ những chữ đọc chúm môi: Quyên, Quyện, Quyền, Quyết...
4.- Petit Dictionnaire Annamite-Francaise, Genibrel, 1906.
· Tất cả viết với ‘I’ ( các trang 213, 244, 296, 345, 508, 609), trừ một chữ Lý (trang 297) và khi Y đứng một mình và có nghĩa (237).
5.- Việt Nam Tự Điển của Khai Trí Tiến Đức: Đa số dùng ‘I’ trừ sau phụ âm K.
· I và Y, những chữ bắt đầu bằng I: Ỉa, Ích kỷ, Im, Ỉm, In, Inh, Ít, Ỉu (trang 257); hoặc Y: Y (áo),Y (bệnh), Ý chí, Ý dĩ, Ý Đại Lợi, Ỳ (ù lì), Ỷ (dựa), Yêm, Yểm, Yếm, Yên, Yến, Yêng, Yểng, Yết, Yêu, Yếu, Yểu điệu. (trang 258 – 260).
· H: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm H: Hi (tiếng khóc), Hí (ngựa Hí), Hì (tiếng cười), Hỉ (xịt mũi)
· K: Chỉ có ‘Y’ đi sau phụ âm K: Ky, Ký, Kỳ, Kỷ, Kỹ, Kỵ.
· L: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm L: Li, Lí, Lì, Lị.
· M: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm M: Mi, Mí, Mì, Mĩ, Mị.
· QU: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm QU: Qui, Quì, Quí, Quỉ, Quĩ, Quít.
· T: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm T: Ti, Tí, Tì, Tỉ, Tĩ (bệnh Trĩ), Tị.
6.- Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức và Lệ Ngọc Trụ, Sài Gòn 1970. Dùng ‘I’ và ‘Y’ lẫn lộn.
· I và Y, những chữ bắt đầu bằng I: Ỉa, Ích kỷ, Im, Ít (trang 166); hoặc Y: Y (áo),Y (bệnh), Ý chí, Ỳ (ù lì), Ỷ (dựa), Yên, Yến, Yêu, Yếu, Yểu điệu. (trang 167 – 169)
· H: Nguyên âm ‘I’ sau phụ âm H, ngoại trừ vài chữ vừa ‘I’ vừa ‘Y’ như Hi vọng/ Hy vọng, Hí viện/Hý viện, Hỉ mũi/Hỷ Mũi. (trang 693).
· K: Chỉ có ‘Y’ đi sau phụ âm K: Vị Kỷ, Kỷ xảo, Kỹ nữ, Kỵ (xung khắc), Kỵ giỗ, Kỵ húy, Kỵ mã... (Trang 705).
· M: vừa ‘I’ vừa ‘Y’: Mì, Mĩ/Mỹ, Mị/Mỵ (nịnh hót) (trang 912), Mỹ (đẹp, Mỹ thuật, Mỹ văn, Mỹ nhân), nước Mỹ, Mỵ Ê (một loại dây leo) (trang 917).
· QU: Theo sau phụ âm QU có thể ‘I’ (trang 917) hay ‘Y’ (trang 1207).
· T: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm T: Ti (tơ tằm), Ti hào (không đáng kể), Ti hí, Ti Tỉ (nho nhỏ), Ti trúc (tiếng dây đàn và sáo), hoa Ti gôn, đàn Tì bà, nhỏ Tí tẹo, Tỉ giảo (so sánh), Tỉ lệ, Tỉ mỉ, Tỉ thí, Tỉ trọng (trang 1382-1383).
· T: Vừa có nguyên âm ‘I’ và ‘Y’ trong các chữ : Ti/Ty (Ty sở, thấp kém), Ti/Ty (tôn ti), Tì/Tỳ (dấu vết, đè xuống), nô Tỳ, Tỳ là lá lách, Tý/Tí (tuổi Tý), Tỉ/Tỷ (giả Tỉ, Tỉ dụ), Tị/Tỵ (lánh xa, Tỵ hiềm, Tỵ nạn), giờ Tỵ, Tỉ/Tỷ (chị), Tỉ/Tỷ phú, Tĩ/Tỹ (bệnh Trĩ) (trang 1419 -1420)
7.- Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh, Hà Nội 1930. Hoàn toàn dùng ‘Y’ trừ sau các phụ âm QU, Th, Tr, V.
· H: Chỉ có ‘Y’ đi sau phụ âm H: Hy vọng, Hy di (vui vẻ), Hy hữu, Hy Lạp, Hy sinh, Hý (cười), Hỷ (vui) (trang 289 – 290).
· K: Chỉ có ‘Y’ đi sau phụ âm K: Ky, Kỳ, Ký, Kỷ, Kỹ, Kỵ (trang 352 - 355).
· L: Chỉ có ‘Y’ đi sau phụ âm L: Ly biệt, Ly chính, Ly gián, Lý (hoa Lý), họ Lý, vật Lý, Lý thuyết, Kiết Lỵ (trang 402 – 404).
· M: Chỉ có ‘Y’ đi sau phụ âm M: My, Mỵ, Mỹ (trang 447 -448)
· QU: Chỉ có ‘I’ đi sau phụ âm QU: Qui, Quí, Quì, Quỉ...(trang 611-612)
· T: Chỉ có ‘Y’ đi sau phụ âm T: Tỵ, Ty, Tỷ, Tý (trang 708 -709)
8. Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang, San Jose 2017.
· Dùng ‘I’ khi nó là nguyên âm duy nhất trong một chữ. Ví dụ: Lí do, địa lí, tị nạn.
· Dùng ‘Y’ khi chỉ có nó và đủ ý nghĩa. Ví dụ: Chú ý, y phục, ngồi ỳ.
Phụ bản 2: Phần tham khảo tài liệu khác để bổ sung:
Xin trích đăng một phần có tựa đề: “Cách Viết i và y” của tác giả Bạch Diện Thư Sinh Trần Vinh (Phụ bản 6 trong sách Mặt Trận Đại Học Thời VNCH, trang 393-394. Thằng Mõ San Jose tái bản năm 2016)."
Trích:
“Trong ý hướng tiến tới việc thống nhất chính tả tiếng Việt, chúng tôi chủ trương viết I khi âm /I/ là nguyên âm hay là phần âm chính của âm tiết, không phân biệt từ đó là thuần Nôm hay Hán Việt. Ví dụ: Bí, di, gì, hỉ, kị, lí, mĩ, ni, rỉ, sĩ, tị, vì, xí… , nhưng ai đã viết tên riêng của mình cách nào, chúng tôi sẽ giữ nguyên.
Ví dụ: Nguyễn Cao Kỳ, Lý Bửu Lâm, Lý Chánh Trung…
Riêng trường hợp khi chữ I đứng một mình, chúng tôi theo ý nhiều nhà ngữ học, tạm thời chấp nhận cả hai cách viết I hoặc Y.
Ví dụ: Âm ỉ, ầm ĩ, nhưng có thể viết y tế, y thị, ý kiến, ỷ lại.
Xin nói thêm, chúng tôi viết UY chứ không viết UI những chữ phát ra âm /uy/.
Ví dụ: Quy, quý, quýt…, chứ không viết qui, quí, quít… (tránh được trường hợp Thuý và Thúi), nhưng ai đã viết tên riêng của mình cách nào, chúng tôi sẽ giữ nguyên. Ví dụ: Lý Quí Chung…
Đó cũng là cách viết của một số vị có công trình nghiên cứu về Ngữ Học Việt Nam, như TS. Nguyễn Đình Hoà (giáo sư Ngôn Ngữ và Văn Minh Văn Hoá VN tại VN và HK, khoa trưởng ĐH Văn Khoa Sài Gòn (1957), đồng sáng lập Viện Việt Học, 2000, HK), BS. Trần Ngọc Ninh (giáo sư ĐH Y Khoa Sài Gòn, giáo sư ĐH Vạn Hạnh, tổng trưởng Văn Hoá Xã Hội Đặc Trách Giáo Dục VNCH (1967), nguyên viện trưởng Viện Việt Học, HK), học giả Nguyễn Hiến Lê (#120 tác phẩm, Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc, 1966).
Cách nay không lâu, GS. Đoàn Xuân Kiên (Luân Đôn) cũng nêu lên quan điểm rõ ràng về vấn đề này. Sau khi điểm qua các sách báo, các bộ từ điển và những cuộc tranh luận từ thế kỉ 17 tới nay, GS. Đoàn Xuân Kiên đã đúc kết thành nguyên tắc 5 điểm về cách viết chính tả hai chữ I và Y như sau:
· Viết Y trong những trường hợp sau đây:
1) khi tổ âm /iê/ ở đầu một tiếng. Ví dụ: yên, yêu.
2) trong các tổ âm chúm môi /ui/ và /uiê/ (viết là uy, uyê, uya). Ví dụ: uy, chuyện, khuya, nguy, tuy.
3) ở sau âm ngắn của a (trong chính tả hiện nay cũng viết bằng đồ vị /a/ và âm ngắn của ơ (tức là đồ vị /â/). Ví dụ: cay, dày, đây, mây.
· Viết I trong những trường hợp sau đây:
4) khi âm /i/ là nguyên âm, hay là phần âm chính của âm tiết.
Ví dụ: ỉ, bí, chim, hí, kìm, lì, lính, sĩ, tị, vì, vinh.
5) Khi âm /i/ là âm cuối, đứng sau phần âm chính ở thể thường, để khép âm tiết.
Ví dụ: ngùi, đói, người, củi, hời, trai.
(Đoàn Xuân Kiên. Nói Thêm Về Chữ I và Y Trong Chính Tả Tiếng Việt. Định Hướng 32, tr. 45,46. Mùa Thu 2002, Hoa Kì).
Chính tả hai chữ I và Y thuộc phạm vi môn Ngữ Học Việt Nam. Môn học nào cũng có những nguyên tắc riêng. Giá trị của một nguyên tắc ngữ học căn cứ vào mức độ chính xác, hợp lí và những lợi ích mà nó mang lại chứ không dựa trên bất cứ quan điểm chính trị hay tôn giáo nào cả. Trên thực tế, nhiều người chủ trương bảo lưu thói quen “đã viết (I và Y) như thế từ hồi học Mẫu giáo”. Có lẽ các nhà nghiên cứu ngữ học cũng thông cảm phần nào với lối suy nghĩ của số đông này, song đã là nhà khoa học thì các vị ấy thường không bị lệ thuộc vào thói quen hay phong tục tập quán.”
Ngưng trích.
No comments:
Post a Comment