Hôm qua, Thứ Ba, ngày 4 tháng 8, các cơ quan truyền thông, báo chí CSVN đồng loạt phổ biến Nghị Quyết số 23-NQ/TU của Bộ Chính trị đảng CSVN, do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành ngày 2/8/2026. Chủ đề của Nghị Quyết này là “Công tác người Việt Nam ở nước ngoài”.
Mặc dù có cùng chủ đề với Nghị Quyết 36-NQ/TU ban hành ngày 26 tháng 3 năm 2004, nhưng Nghị Quyết 23 này không chỉ nhằm khai thác tài nguyên nhân vật lực của Cộng đồng Người Việt hải ngoại, mà còn tiến thêm một bước nguy hiểm hơn nữa. Đó là minh thị khẳng định muốn “xây dựng” mỗi người Việt ở nước ngoài thành một “sứ giả” để “quảng bá” với thế giới hình ảnh một VN tươi đẹp dưới thể chế độc tài đảng trị CS.
Trước sự kiện này, Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc thấy cần phải minh thị vạch trần dã tâm của đảng CSVN qua Nghị quyết 23 mà tập đoàn này vừa ban hành.
Đài ĐLSN trân trọng kính mời quý thính giả theo dõi bài Quan Điểm của Lực Lượng Cưu Quốc tựa đề “Nghị Quyết 23-NQ/TW: Bình Mới, Rượu Cũ” do MIÊN DƯƠNG trình bày sau đây...
Nghị Quyết 23-NQ/TW: Bình Mới, Rượu Cũ
Ngày 2 tháng 8 năm 2026, Bộ Chính Trị CSVN, do Tô Lâm đứng tên ký ban hành, đã công bố Nghị Quyết số 23-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Văn kiện này chính thức thay thế Nghị Quyết 36-NQ/TW ban hành ngày 26 tháng 3 năm 2004, sau hơn hai mươi năm áp dụng.
Nghị quyết mở đầu bằng việc ghi nhận cộng đồng người Việt hải ngoại nay đã lên đến hơn 6,5 triệu người, cư ngụ tại hơn 130 quốc gia và lãnh thổ, một khối dân số ngày càng lớn mạnh, ổn định. Tuy nhiên văn kiện cũng để lộ mối lo ngại về "một bộ phận nhỏ" trong cộng đồng vẫn còn định kiến và có hành động mà CSVN gọi là "phá hoại" quan hệ giữa Việt Nam với các nước sở tại.
Về mặt tư tưởng chỉ đạo, nghị quyết xác định người Việt hải ngoại là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, và là một trong những tài lực chiến lược quan trọng góp phần vào sức mạnh tổng hợp quốc gia. CSVN chủ trương nâng cấp cách nhìn: từ chỗ chỉ vận động, tập hợp, chăm lo đồng bào hải ngoại như trước đây, nay chuyển sang đồng hành, kiến tạo định chế để huy động sâu rộng hơn tài lực và trí tuệ của cộng đồng.
Nghị quyết đề ra bảy nhiệm vụ, giải pháp lớn: đổi mới tư duy và tăng cường sự lãnh đạo của đảng; hoàn thiện định chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi cho đồng bào; xây dựng cộng đồng đoàn kết hướng về quê hương; phát huy tài lực người Việt hải ngoại phục vụ phát triển đất nước; gìn giữ tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc nơi hải ngoại; phát huy vai trò người Việt hải ngoại trong công tác thông tin, tuyên truyền; và kiện toàn bộ máy tổ chức, tăng cường phối hợp cho công tác này.
Điều đáng chú ý nhất trong bảy nhiệm vụ trên là nhiệm vụ thứ sáu, phát huy vai trò được gọi là "chủ thể" của người Việt hải ngoại trong công tác thông tin, tuyên truyền. Đây là điểm hoàn toàn mới so với các văn kiện trước đây, sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần dưới.
Muốn hiểu rõ ý nghĩa thực sự của Nghị Quyết 23, cần đặt nó bên cạnh hai văn kiện tiền nhiệm: Nghị Quyết 36-NQ/TW năm 2004, và Quyết Định 1334/QĐ-TTg do Thủ tướng ký ngày 10 tháng 11 năm 2023, phê duyệt đề án phát huy tài lực người Việt hải ngoại phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới.
Nghị Quyết 36 ra đời năm 2004, trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập sân chơi quốc tế sau thời kỳ cấm vận, còn e dè và thăm dò thái độ của cộng đồng hải ngoại. Trọng tâm của văn kiện này là hàn gắn, xóa bỏ mặc cảm, mời gọi đồng bào về nước đầu tư, du lịch, hoặc chuyển tiền kiều hối, với ngôn ngữ vận động một chiều: Hà Nội chủ động tiếp xúc, còn cộng đồng ở vị trí được mời gọi.
Quyết Định 1334 năm 2023 là một bước tiến xa hơn. Thay vì chỉ vận động chung chung, văn kiện này cụ thể hóa thành một đề án hành chính, với mục tiêu và phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng bộ, ngành, địa phương, nhằm huy động tài lực người Việt hải ngoại phục vụ công nghiệp hóa và mục tiêu đưa Việt Nam thành nước có lợi tức cao vào năm 2045. Nhiều nhà quan sát tại hải ngoại khi ấy đã cảnh báo đây là một kế hoạch khai thác tài sản, trí tuệ, và ảnh hưởng của cộng đồng, chứ không thực tâm phục vụ quyền lợi của người Việt hải ngoại.
Nghị Quyết 23 mang một tầm mức khác hẳn, vì đây là văn kiện do Bộ Chính Trị, cơ quan quyền lực cao nhất của đảng, trực tiếp ban hành, đứng trên cả Nghị Quyết 36 lẫn Quyết Định 1334 về mặt thứ bậc. Nếu Nghị Quyết 36 là bước mở cửa mời gọi, và Quyết Định 1334 là bước lập kế hoạch khai thác, thì Nghị Quyết 23 là bước thể chế hóa toàn diện, gộp luôn công tác chính trị, an ninh, và tuyên truyền vào một mối, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đảng chứ không còn giao khoán cho bộ máy hành chính như trước.
Khác biệt rõ rệt nhất nằm ở ba điểm. Thứ nhất, Nghị Quyết 23 lần đầu tiên đưa ra khái niệm người Việt hải ngoại là "chủ thể" của công tác thông tin, tuyên truyền, nghĩa là CSVN không chỉ muốn khai thác tiền bạc và chất xám của cộng đồng như trước, mà còn muốn biến một bộ phận cộng đồng thành công cụ truyền thông, phát ngôn thay cho đường lối của đảng ngay tại nước sở tại. Thứ hai, nghị quyết đặt vấn đề an ninh, an toàn của người Việt hải ngoại dưới sự phối hợp bảo đảm của đảng và nhà nước, có thể mở đường cho việc mở rộng phạm vi hoạt động của các cơ quan an ninh CSVN ra ngoài lãnh thổ, núp dưới danh nghĩa bảo vệ kiều bào. Thứ ba, nghị quyết công khai nhắc đến một bộ phận nhỏ có hành động bị gọi là "phá hoại", một cách gọi mới nhằm chính danh hóa việc theo dõi, phân loại, và có thể chế tài những cá nhân, tổ chức hải ngoại bị xem là chống đối.
Nói cách khác, so với Nghị Quyết 36 và Quyết Định 1334, Nghị Quyết 23 không phải là một sự đổi mới theo hướng cởi mở hơn. Đây là một bước siết chặt và hệ thống hóa toàn bộ công tác đối với người Việt hải ngoại, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính Trị, với phạm vi bao trùm cả kinh tế, văn hóa, an ninh, lẫn truyền thông.
Trước một văn kiện có tầm mức và tham vọng như vậy, cộng đồng người Việt hải ngoại cần giữ một thái độ tỉnh táo, không vội mừng trước những mỹ từ như hòa hợp dân tộc, gác lại quá khứ, hay đại sứ văn hóa.
Điều thứ nhất cần cảnh giác là chiến thuật biến người Việt hải ngoại thành chủ thể truyền thông cho đảng. CSVN không còn bằng lòng với việc chỉ gởi phái đoàn, tổ chức hội nghị kiều bào, hay tài trợ vài tờ báo hải ngoại thân chế độ như trước, mà nay có tham vọng cài cắm, nuôi dưỡng, và biến một số cá nhân, hội đoàn, cơ quan truyền thông tại hải ngoại thành cánh tay nối dài của đảng. Những cơ sở này sẽ phát ngôn hộ cho đường lối CSVN ngay trong lòng cộng đồng, dưới vỏ bọc tiếng nói độc lập hoặc báo chí kiều bào. Đồng bào cần thận trọng khi tiếp xúc với những nguồn tin, hội đoàn, hoặc cá nhân bỗng dưng có tài lực dồi dào bất thường để tổ chức sự kiện, mở cơ quan truyền thông, hoặc vận động dư luận.
Điều thứ hai là nguy cơ mở rộng phạm vi an ninh ra hải ngoại. Việc đặt vấn đề an ninh, an toàn của người Việt hải ngoại dưới sự phối hợp bảo đảm của nhà nước CSVN có thể trở thành cái cớ để công an, tình báo CSVN gia tăng do thám, theo dõi cộng đồng ngay tại nước sở tại, núp dưới danh nghĩa bảo vệ kiều bào. Đồng bào, nhất là các nhà hoạt động, cựu quân nhân, và giới truyền thông độc lập, cần đề cao cảnh giác trước khả năng bị theo dõi, bị thu thập dữ kiện cá nhân, hoặc bị gây áp lực gián tiếp qua thân nhân còn ở trong nước.
Điều thứ ba là nguy cơ chia rẽ nội bộ cộng đồng. Cách gọi một bộ phận nhỏ có định kiến hay hành động phá hoại thực chất là một công cụ phân loại, nhằm tách cộng đồng ra làm hai nhóm: nhóm được xem là yêu nước, hòa hợp, sẽ được vỗ về và ưu đãi; nhóm còn lại bị xem là chống đối, cực đoan, sẽ bị cô lập và bôi nhọ. Thủ đoạn này nhằm làm suy yếu tính đoàn kết vốn có của cộng đồng người Việt tự do hải ngoại, tạo nghi kỵ và chia rẽ giữa các thế hệ, các hội đoàn, và các cá nhân.
Điều thứ tư liên quan đến tài lực và trí tuệ. Đồng bào cần nhận rõ lời mời gọi đồng hành, kiến tạo định chế thực chất vẫn nằm trong khuôn khổ độc quyền lãnh đạo của đảng theo Điều 4 Hiến Pháp. Mọi đóng góp tài chính, khoa học, kỹ nghệ của người Việt hải ngoại, dù được ca ngợi là tài lực chiến lược, cuối cùng vẫn phục vụ mục tiêu duy trì và củng cố quyền lực của một đảng duy nhất, chứ không phải một tiến trình dân chủ hóa hay cải cách thể chế thực sự.
Sau cùng, đồng bào cần phân biệt rõ giữa tình cảm quê hương chính đáng, vốn không ai có thể phủ nhận hay ngăn cấm, với việc bị lôi kéo vào bộ máy tuyên truyền của một chế độ độc tài. Yêu quê hương, giữ gìn tiếng Việt, văn hóa dân tộc là quyền và cũng là trách nhiệm của mỗi người Việt hải ngoại. Nhưng điều đó hoàn toàn khác với việc trở thành công cụ, dù vô tình hay hữu ý, cho một định chế chính trị đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của dân tộc.
Nghị Quyết 23-NQ/TW, xét cho cùng, không phải là cánh cửa mở ra hòa giải thực sự, mà là một bước đi có tính toán nhằm mở rộng tầm kiểm soát của CSVN ra ngoài biên giới quốc gia, vào tận trong lòng cộng đồng người Việt tự do khắp năm châu. Cộng đồng hải ngoại, với kinh nghiệm và bản lĩnh tích lũy qua nhiều thập niên, cần giữ vững lập trường, tỉnh táo phân biệt thực chất đằng sau những mỹ từ, để không trở thành công cụ phục vụ cho một chế độ đặt sự tồn vong của đảng lên trên vận mệnh của dân tộc.
Cám ơn quí thính giả đã theo dõi bài quan điểm của chúng tôi.
No comments:
Post a Comment