Thursday, September 3, 2026

Chương trình Tiếng Việt Trong Sáng, Kỳ thứ 47: Cấu trúc câu văn

Tiếng Việt Trong Sáng

Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó… 

Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về cấu trúc của câu văn

Đỗ Văn Phúc

HỏiTrước khi đi vào đề tài mới, xin ông có thể bàn sơ qua vài nhóm chữ mà chúng tôi vừa nhận được từ thính giả. Các vị thính giả, cho biết  là họ nghe được trong vài video trong đó có câu nói: “Để xem họ cơ cấu vụ việc vi phạm giao thông....” hay nhóm chữ “ngon đến nhức nách, cười té ghế, cười đến tụt quần...”

ĐápTrong phạm vi chương trình TVTS, chúng ta chỉ bàn việc dùng chữ sai nghĩa, gán ghép hay cắt bớt chữ cách kỳ cục, thô thiển. Còn những nhóm chữ mới phát sinh từ sinh hoạt xã hội – vốn thay đổi từng ngày, từng giờ do phát triển kinh tế, khoa học – thì phải nói rất khó bình luận. Cách tốt nhất là xem những chữ mới này có chuyên chở được ý nghĩa của nó, có nghe xuôi tai và cách ghép có phù hợp với ngữ pháp hay không.

Nhưng về tiếng lóng mà phát sinh trong bất cứ xã hội nào, ở bất cứ quốc gia nào, thì nó sẽ từ từ trở thành một phần trong ngôn ngữ bình dân. Những bạn trẻ ngày nay sử dụng cell phone cũng sáng tạo ra nhiều tiếng lóng để chuyển lời nhắn cách ngắn gọn thay vì đánh máy cả câu dài. Nhưng bỏ bớt chữ như kiểu quyết thay vì quyết định, chuẩn thay vì tiêu chuẩn, quản thay vì quản lý, vất thay vì vất vả... thì khó nghe lắm.

Ngày xưa chúng ta cũng có nhiều chữ như: “ca sáu câu vọng cổ (đề nói việc năn nỉ, van xin); ‘mút mùa Lệ Thủy’ (để nói chuyện dông dài); “mút chỉ cà thanhậu quắc cần câu, Xì trum, ghế tơ, ghế lão, khứa lão, hui nhị tì, đi buôn muối, nằm ấp, cớm vân vân..

Thì nay, nếu có những nhóm chữ “ngon nhức nách, cười té ghế, cười tụt quần...” thì cũng là chuyện tự nhiên thôi. Không nên quá khó chịu. Nhưng phải biết cái giới hạn của nó là trong ngôn ngữ bình dân thôi; đừng du nhập vào văn hóa chính thống.

Nhưng trong câu anh đưa ra: “Để xem họ cơ cấu vụ việc vi phạm giao thông....” thì rõ ràng người dùng đã không hiểu chữ cơ cấu; và chính tôi, tôi cũng không hiểu họ muốn nói đến việc gì? Có thể là dàn xếp, thương lượng, giải quyết?

Hỏi

Thưa ông, suốt năm qua, chúng ta đã bàn qua việc dùng chữNay, xin ông vui lòng bàn sơ qua về cấu trúc câu văn.

Đáp:

Trong văn chương, có ba yếu tố: ngữ pháp, cú pháp và văn pháp.   pháp là cấu trúc câu văn, trong đó cách dùng các dấu là điều căn bản nhất. Trước hết, cần phân biệt về các thành phần cấu trúc của một câu.

Chữ (word) là đơn vị nhỏ nhất có mang một ý nghĩa.

Ví dụ: Nhà, xe, đi, xanh, đỏ …

Một sự phân biệt giữa Từ (Lời) và Tự (Chữ). Trong thực tế, có sự nhầm lẫn thường xuyên giữa hai chữ Từ và Tự.

Từ  là lời, là âm thanh phát ra; còn Tự  là chữ, là ký hiệu khi lời (từ) được ghi xuống giấy. Nguồn: Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu, Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh (740, 744), Việt Nam Tự Điển Tín Đức (541, 542), Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ (1472, 1478).

Các ví dụ:

(1) TỪThủ tướng đọc diễn từ, đáp từ của ông Chủ tịch, đọc chúc từ, điếu từ, mỹ từ.

(2) TỰĐả tự, ký tự, văn tự bán nhà, cuốn tự điển, tự dạng, chiết tự, nhất tự vi sư.

(3) Khi nghe chị ấy đọc từng ‘chữ’ (Tự), anh nghẹn ngào, không nói nên ‘lời’ (Từ).

Nhóm chữ (Phrase): đơn giản là một kết hợp có từ hai chữ (words) trở lên có mang một ý nghĩa, nhưng có thể không tròn một câu (incomplete); tức là không cần có động tự (verb) hay túc tự (subject).

Một nhóm chữ có một chữ chính (head word) và một hay nhiều chữ khác để bổ túc cho chữ chính. Các ví dụ về những loại nhóm chữ chính là:

Ví dụ: Người bạn tốt (noun phrase- lái xe cẩn thận (verb phrase) - quá lạnh và tối (adjective phrase- hết sức chậm chạp (adverb phrase).

 

Mệnh đề (clause) là một kết hợp có từ hai chữ trở lên và được cấu tạo ít nhất bởi một chủ từ (subject) và một động tự (verb) hay có thêm túc từ (object). Có khi có thêm cả tĩnh tự, trạng tự…

Ví dụ: Chiếc xe chạy. Chuông reo nhanh. Tôi đến Sài Gòn. Anh ta làm việc xuất sắc.

Một mệnh đề độc lập (independent clause) có thể coi là một câu ngắn vì tự nó đã đủ ý.

Ví dụ: Tôi sẽ đi ngày mai.

Mệnh đề phụ thuộc (subordinate clause) không diễn đạt toàn vẹn một ý chính và tự nó không trở thành một câu.

Ví dụ: Nếu làm xong thủ tục, tôi sẽ đi ngày mai.  

Hai mệnh đề trên làm thành một câu. Nếu cho một dấu chấm sau mệnh đề phụ (nếu làm xong thủ tục), thì nó sẽ tối nghĩa, không hoàn chỉnh. Mệnh đề chính “Tôi sẽ đi ngày mai” có thể đứng một mình mà vẫn đủ ý. Còn mệnh đề phụ “Nếu làm xong thủ tục” tách ra một mình thì người đọc sẽ ngẩn ngơ.

Còn nhiều loại mệnh đề khác. Nhưng chúng ta tạm dừng ở đây để đi qua phần khác.

Hỏi: Thế mệnh đề có phải là câu không?

Trả lời

Câu (sentence): là một đoạn văn ngắn hay dài chuyển đạt trọn vẹn một ý chính. Tất cả các câu phải có ít nhất một mệnh đề.

Ví dụ: Tôi sẽ đi xa.

Câu này cũng vừa là một mệnh đề độc lập (independent clause), vì tự nó đã tròn ý.

Nhưng một câu cũng có thể có nhiều mệnh đề (complex sentence): một mệnh đề chính (main clause) và một hay các mệnh đề phụ (subordinate clauses).

Ví dụ: Khi nào trời mưa (mệnh đề phụ), chúng ta khỏi tưới cỏ (mệnh đề chính).

Câu ghép (compound sentence) cấu tạo bởi hai hay nhiều mệnh đề độc lập.

Ví dụ: Chiếc xe đã đỗ trước nhà, và chúng tôi lên xe.

Gọi là câu ghép, vì nếu tách hai mệnh đề ra, nó sẽ là hai câu tròn nghĩa mà không lệ thuộc nhau.

Tùy trường hợp, các mệnh đề phụ và chính trong câu phải nối với nhau bằng liên tự (và, nhưng, vì, bởi vì, hoặc, tuy nhiên…) hay một dấu chấm phảy (semicolon). Nhưng không được dùng dấu chấm (period). Vì dấu chấm là để chấm dứt một câu.

Các mệnh đề độc lập có thể được nối với nhau bằng dấu chấm phảy (semi-column)

Ví dụ: Ông Hai ra khỏi nhà; bà Hai ra bếp sửa soạn thức ăn.

hay dấu phảy (comma) nhưng phải có liên tự đi theo.

Ví du: Ông Hai rời khỏi nhà, và bà Hai xách giỏ đi chợ.

 

Chúng tôi có nhận xét rất nhiều người viết văn không quan tâm đúng mức cách dùng mệnh đề; họ viết xong mệnh đề phụ rồi chấm một cái trước khi viết mệnh đề chính; có khi họ quên luôn cả mệnh đề chính.

Ví dụ trong một bài phóng sự chiến trường An Lộc: “Nhờ có sự yểm trợ đắc lực của không quân VNCH từ Biên Hòa và pháo binh của các Tiểu đoàn Pháo thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh và cả pháo từ Hạm Đội 7 của Mỹ.”

Tác giả đặt dấu chấm khi câu này chưa đủ ý! Lẽ ra ông ta phải viết thêm về ảnh hưởng, hậu quả của những yểm trợ này thì quân trú phòng đã chiến đấu ra sao!

 

Đoạn văn (paragraph): gồm các câu đã bao hết ý nghĩa trong một phạm vi nào đó. Sau dấu chấm của câu chót, chúng ta nên xuống một hàng khác để người đọc không thấy nhức mắt. Có khi phải xuống hai hàng nếu mạch văn chuyển qua một ý quan trọng khác.

 

Chào, tạm dứt cho kỳ này. Kỳ sau sẽ bàn tiếp về các dấu.

Trích trang 4, cuốn Việt Nam Văn Phạm của Trần Trọng Kim.

 

 

 

Đỗ Văn Phúc

 

No comments:

Post a Comment