Tuesday, September 1, 2026

Đánh Đổi Chủ Quyền Đất Nước Để Củng Cố Ngôi Vị Độc Tôn

Bình Luận

Từ ngày thống trị đất nước, tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN vẫn luôn bám giữ lập trường cố hữu: đặt sự tồn vong của đảng lên trên quyền lợi tối thượng của dân tộc. Thể hiện lập trường này, trong những năm qua, CSVN sẵn sàng làm ngơ trước đe dọa an ninh lãnh thổ miễn sao giữ được đà tăng trưởng kinh tế để chứng tỏ tính chính danh của đảng cầm quyền.

Trong chuyên mục BÌNH LUẬN hôm nay, kính mời quý thính giả theo dõi bài viết của ĐOÀN KHÔI, thành viên Ban Biên Tập đài ĐLSN, tựa đề "Đánh Đổi Chủ Quyền Đất Nước Để Củng Cố Ngôi Vị Độc Tôn", sẽ do Hướng Dương trình bày sau đây ...

Trong năm ngày liên tiếp, từ ngày 24 đến 28 tháng 8 năm 2026, Trung Cộng đã cho tiến hành các cuộc tập trận bắn đạn thật trên một vùng rộng thuộc Biển Đông. Bắc Kinh còn ban hành lệnh cấm tàu bè các nước khác xâm nhập trong suốt thời gian tập trận. Đồng thời, cuộc đối đầu Trung Cộng - Phi Luật Tân tại bãi cạn Scarborough tiếp tục gia tăng, dẫn đến việc phối hợp tuần tra chung của Phi với Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Đối với Việt Nam, dữ kiện theo dõi tàu biển do hãng tin Bloomberg công bố cho thấy nguy cơ đụng độ giữa Hà Nội và Bắc Kinh tại quần đảo Trường Sa đang gia tăng rõ rệt. Việt Nam cũng đang đẩy mạnh việc bồi đắp và quân sự hóa các đảo nhân tạo để đối phó với áp lực từ phương Bắc. Thế nhưng, cũng trong những ngày này, Thủ tướng Lê Minh Hưng lại công khai kêu gọi các doanh nghiệp Trung Cộng "tiếp tục xem Việt Nam là cứ điểm sản xuất và thương mại lâu dài". Ông Hưng còn khuyến khích Bắc Kinh tăng cường đầu tư vào những dự án công nghệ cao hơn. Hai hình ảnh trái ngược đó - tàu chiến rình rập nhau ngoài khơi, và lời mời gọi đầu tư nồng nhiệt – đã phơi bày trọn vẹn bản chất hai mặt của chế độ Cộng sản Việt Nam trước Trung Cộng: vừa phòng thủ, lại vừa lệ thuộc.

Đây không phải là một chính sách đối ngoại khôn khéo "vừa đánh vừa đàm" như các cơ quan tuyên truyền vẫn rêu rao. Trái lại, đó là hệ quả tất yếu của một cơ chế cầm quyền độc đảng, coi sự tồn vong của đảng được đặt lên trên quyền lợi tối thượng của quốc gia. Kể từ Đại hội XIV, giới lãnh đạo CSVN đã đặt mục tiêu đưa Việt Nam thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Không còn hệ tư tưởng nào khác để biện minh, tính chính danh cầm quyền của đảng nay gần như hoàn toàn dựa vào những con số tăng trưởng kinh tế. Muốn giữ đà tăng trưởng ấy, Hà Nội cần nguồn tiếp liệu, từ nguyên liệu, vốn đầu tư và cả thị trường tiêu thụ từ Trung Cộng, tức nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới và cũng là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Chính sự lệ thuộc kinh tế có tính cách cơ cấu này đã trở thành một lợi thế để Bắc Kinh gây áp lực mỗi khi Hà Nội tỏ ra cứng rắn hơn về mặt chủ quyền. Giới lãnh đạo CSVN vì thế luôn phải cân nhắc từng lời tuyên bố, từng hành động ngoại giao, sao cho không chọc giận "người bạn vàng" phương Bắc.

So sánh với Phi Luật Tân, một quốc gia cũng tranh chấp chủ quyền với Trung Cộng nhưng theo thể chế dân chủ đa đảng, có thể thấy rõ sự khác biệt. Ngày 25 tháng 8 vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Phi Luật Tân Gilberto Teodoro đã đệ trình Quốc hội đề nghị tăng 6,3% ngân sách quốc phòng. Khoản tăng này dành riêng 50 tỷ peso, tương đương khoảng 800 triệu Mỹ kim, cho việc hiện đại hóa quân đội, tăng đến 25% so với năm trước. Đó là một quyết định công khai, được Quốc hội, cơ quan dân cử thực sự, giám sát và tranh luận.

Trong khi đó, tại Việt Nam, mọi chính sách quốc phòng và chủ quyền lãnh thổ đều được định đoạt sau những cánh cửa đóng kín của Bộ Chính trị. Không một cơ chế giám sát độc lập nào có quyền chất vấn. Người dân chỉ được biết những gì đảng muốn cho biết, thường quá muộn hoặc quá mơ hồ để đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng.

Lịch sử đã nhiều lần chứng minh cái giá phải trả cho lối đáp ứng "vừa sợ vừa lệ thuộc" này. Năm 1988, hải quân CSVN bị thảm sát tại Gạc Ma mà không được phép nổ súng chống trả, theo chỉ thị được cho là "không được nổ súng trước để tránh làm phức tạp quan hệ” với Trung Cộng. Năm 2014, khi Bắc Kinh kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, phản ứng chính thức của Hà Nội cũng chỉ dừng ở những công hàm phản đối. Trong khi đó, các cuộc biểu tình tự phát của người dân trong nước lên án Bắc Kinh lại bị đàn áp không thương tiếc.

Khuôn mẫu đó nay tiếp tục lặp lại: đối ngoại nhũn nhặn, nhưng đối nội sẵn sàng bịt miệng bất cứ tiếng nói nào dám cảnh báo hiểm họa từ phương Bắc. Tiếng nói đó, nếu lan rộng, có thể đe dọa trực tiếp quyền lực tuyệt đối mà đảng đang nắm giữ. Điều đáng nói là sự lệ thuộc kinh tế này không chỉ giới hạn trong lãnh vực thương mại, mà còn hiện hữu trong nhiều địa bàn chiến lược khác, từ hạ tầng viễn thông, năng lượng, cho đến giáo dục và truyền thông.

Khả năng tự chủ thực sự của Việt Nam vì vậy ngày càng bị thu hẹp. Một quốc gia không thể vừa tuyên bố bảo vệ chủ quyền bằng những công trình bồi đắp tốn kém, vừa tự nguyện trao cho đối phương chiếc chìa khóa kinh tế có thể bóp nghẹt mình bất cứ lúc nào. Đây là hậu quả tất yếu của tình trạng an ninh và chủ quyền của một dân tộc đã giao phó cho một tập đoàn cầm quyền coi sự tồn vong của chính mình quan trọng hơn vận mệnh đất nước.

Chỉ khi Việt Nam có được một thể chế thực sự do dân bầu, thực sự chịu trách nhiệm trước dân, thì chủ quyền quốc gia mới được đặt đúng vị trí tối thượng của nó. Khi ấy, chủ quyền sẽ không còn bị mặc cả trong toan tính quyền lực nội bộ của đảng Cộng sản./.

No comments:

Post a Comment