Kính thưa quý thính giả, có một trò ảo thuật mà chế độ độc tài nào cũng thành thạo: biến những con số thống kê khô khan thành tấm bình phong che khuất nỗi khốn khó của người dân thấp cổ bé miệng. Nhưng sau tấm bình phong hào nhoáng đó, biết bao gia đình vẫn vật lộn từng ngày với nghèo khó, mất mùa, rớt giá, mà không con số thống kê nào phản ảnh nổi. Đó là nghịch cảnh đang diễn ra tại Việt Nam trong những ngày gần đây.
Trong chuyên mục BÌNH LUẬN hôm nay, kính mời quý thính giả theo dõi bài viết của THẾ VŨ, thành viên Ban Biên Tập đài ĐLSN, tựa đề “Tăng Trưởng Công Nghiệp Nhưng Nông Dân Ngày Càng Khốn Đốn”, sẽ do Miên Dương trình bày sau đây ...
Cục Thống Kê Việt Nam vừa loan báo một con số khiến các cơ quan truyền thông nhà nước rầm rộ quảng bá: chỉ số sản xuất công nghiệp bảy tháng đầu năm 2026 tăng 11.4 phần trăm so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Riêng tháng Bảy, chỉ số này tăng đến 14.5 phần trăm. Các bản tin kinh tế thi nhau đăng tải, xem đây như bằng chứng hùng hồn cho "thành tựu đổi mới" và sự lãnh đạo sáng suốt của đảng cầm quyền. Nhưng chỉ cách những nhà máy đèn đuốc sáng trưng đó không xa, tại Vĩnh Long, nông dân trồng dừa đang phải bán tháo dừa tươi để giảm lỗ lã. Giá dừa khô nguyên liệu đã giảm chỉ còn khoảng 25 ngàn đồng một chục mười hai trái. Đó là mức thấp nhất trong nhiều năm, giảm gần chín mươi phần trăm so với trước đây. Hai hình ảnh trái ngược đó — con số tăng trưởng lấp lánh trên báo cáo, và mồ hôi nước mắt của người trồng trọt — chính là bức chân dung trung thực của nền kinh tế Việt Nam dưới sự cai trị của đảng CSVN.
Căn bệnh này đã ăn sâu vào cơ cấu kinh tế của chế độ từ nhiều thập niên. Mọi nguồn tài lực, mọi chính sách ưu đãi đều dồn về khu vực kỹ nghệ có vốn đầu tư ngoại quốc, trong khi khu vực nông thôn, nơi sinh kế của hàng chục triệu gia đình, luôn bị bỏ mặc cho quy luật thị trường tự xoay xở. Khi một công ty ngoại quốc mở nhà máy lắp ráp linh kiện điện tử, báo chí nhà nước tưng bừng loan tin, quan chức địa phương tranh nhau cắt băng khánh thành. Nhưng khi hàng vạn nhà nông điêu đứng vì giá nông sản “rơi” tự do, thì báo chí hoàn toàn im ắng, hoặc cùng lắm là một bản tin ngắn ngủi rồi chìm nghỉm giữa dòng thời sự.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao chính yếu đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tức những công ty lắp ráp, gia công cho các tập đoàn đa quốc gia. Các công ty này tận dụng nhân công giá rẻ và những ưu đãi thuế khóa dồi dào mà nhà cầm quyền CSVN dành riêng cho nhà đầu tư ngoại quốc, nhằm phô trương chỉ số tăng trưởng. Phần giá trị gia tăng thực sự ở lại trong nước lại rất khiêm tốn, bởi vì nguyên liệu, kỹ thuật, và cả lợi nhuận phần lớn chảy ngược ra ngoại quốc. Nói cách khác, con số 11,4 phần trăm ấy phản ảnh mức hoạt động của các công ty ngoại quốc đặt cơ xưởng tại Việt Nam, nhiều hơn là phản ảnh đời sống thực của người dân bản xứ. Nông dân vẫn chiếm gần một phần ba lực lượng lao động toàn quốc, nhưng gần như vắng bóng trong con số đó.
Trong khi đó, nông sản Việt Nam liên tục gặp khó khăn khi xuất cảng, không chỉ vì giá cả bấp bênh mà còn vì chất lượng chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nhiều lô hàng bị trả về vì ô nhiễm các loại phân hóa học, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt trên thị trường thế giới. Đây không chỉ là lỗi của người nông dân thiếu kiến thức kỹ thuật, mà chính yếu là hậu quả của cơ quan quản trị nông nghiệp lỏng lẻo, thiếu đầu tư cho công tác kiểm định phẩm chất, và thiếu hẳn một chính sách dài hạn giúp nông dân chuyển sang canh tác an toàn, bền vững.
Người nông dân trồng dừa tại Vĩnh Long, cũng như biết bao nông hộ khác trên khắp đất nước, không có công đoàn bảo vệ quyền lợi, không có định chế thu mua bảo đảm giá căn bản. Họ cũng chẳng có tiếng nói nào đủ mạnh trong guồng máy hành chánh để đòi hỏi công bằng. Khi giá cả sụt giảm thê thảm, họ chỉ còn biết tự cứu mình bằng cách bán tháo, chặt bỏ vườn cây, hoặc chuyển sang trồng loại khác trong vô vọng, để rồi vài năm sau lại rơi vào vòng xoáy được mùa mất giá quen thuộc. Chu kỳ khốn khó đó lặp đi lặp lại suốt nhiều thập niên qua, mà chưa từng có một chính sách nhất quán nào của nhà cầm quyền đủ sức chấn chỉnh, ngăn chận.
Điều trớ trêu là trong lúc nông dân điêu đứng, bộ máy tuyên truyền vẫn không ngừng ca tụng những con số tăng trưởng chung chung, xem đó là thước đo duy nhất của sự thịnh vượng quốc gia. Một xã hội mà phúc lợi thực sự của người dân bị đánh tráo bằng những con số thống kê hào nhoáng, là một xã hội đang tự lừa dối chính mình. Tăng trưởng công nghiệp, nếu không đi kèm với việc nâng đỡ đời sống của tầng lớp lao động sản xuất ra lương thực nuôi sống cả dân tộc, thì chỉ là một lớp sơn bóng bẩy phủ lên một nền móng đang rệu rã, nứt rạn.
Người dân, đặc biệt là những ai còn gắn bó với ruộng vườn, cần nhìn thấu sự tương phản trần trụi này để không còn bị ru ngủ bằng những khẩu hiệu tăng trưởng sáo rỗng. Một chế độ thực sự vì dân phải là chế độ biết lắng nghe tiếng khóc của người trồng dừa, người trồng lúa, người nuôi cá, chứ không phải chỉ biết đo lường thành tích bằng những con số công nghiệp xa lạ với đời sống đồng ruộng.
Cho đến khi nào định chế cầm quyền còn xem nông dân là thành phần thứ yếu trong bức tranh phát triển, những vườn dừa Vĩnh Long sẽ còn tiếp tục bị đốn hạ trong lặng lẽ. Giấc mơ "thịnh vượng" trên báo đài, khi ấy, sẽ mãi chỉ là câu chuyện của kẻ khác, không phải của người cầm cuốc, cầm cày./.
No comments:
Post a Comment