Thursday, March 12, 2026

Tiếng Việt Trong Sáng (Kỳ 23): Quang Nam & nhà văn Đỗ Văn Phúc – qui hoạch, qui trình, đề xuất, đột xuất, hộ khẩu, hộ chiếu

Tiếng Việt Trong Sáng

Thưa quý thính giả, trong chuyên mục “Tiếng Việt Trong Sáng” hôm nay, phóng viên Quang Nam cùng nhà văn Đỗ Văn Phúc sẽ tiếp tục thảo luận về một số từ ngữ mà thỉnh thoảng không còn được dùng theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó… 

Trong chương trình hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu về các chữ qui hoạch, qui trình, đề xuất, đột xuất, hộ khẩu, hộ chiếu 

Chữ Việt Nam hay Chữ Việt Cộng?

Đỗ Văn Phúc

 

Một khuynh hướng rất lạ trong quần chúng ở hải ngoại, là khi họ nghe hay đọc một chữ nào trước đây chưa biết thì a-lê-hấp, phán ngay “đó là chữ Việt Cộng.” Mới đây có vài vị hỏi chúng tôi về những chữ mà họ chỉ nghe trên báo chí, đài truyền hình, truyền thanh ở Việt Nam từ sau 1975. Đó là các chữ như ‘qui hoạch, qui trình, đề xuất, đột xuất, hộ khẩu, hộ chiếu’

Trước đây, bản thân chúng tôi cũng từng có suy nghĩ như thế với nhiều chữ, mà sau đó - khi bắt đầu vào công việc soạn thảo cuốn Chuyện Dài Chữ Nghĩa - mới có dịp tìm tòi và học hỏi thêm. Chúng tôi nhận ra kiến thức của mình còn hạn hẹp và mang nặng cảm tính, để quan điểm chính trị chi phối nên nhận thức sai lạc khá nhiều. Vì thế, trong bài mở đầu của cuốn sách, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng “... bất cứ những lời nào, chữ nào nói ra từ miệng người Việt đều là ngôn, từ chung của Việt Nam. Những người có thẩm quyền trong chế độ Cộng Sản không sáng chế thêm chữ mà chỉ sử dụng sai chữ, do sự thiếu hiểu biết và cẩu thả của họ.”

Đúng thế, chúng ta đã nghe, đọc rất nhiều chữ mà người Việt trong nước gán ghép cách kỳ quặc, hay sử dụng nghèo nàn một loại từ, một tĩnh từ, một động từ cho bất cứ chủ từ nào, trong bất cứ trường hợp nào. Nhất là chữ viết dựa theo cách nói ngọng của các vùng mà cũng thấy ngay trong sách giáo khoa, tài liệu chính thức của nhà nước.

Một điều mâu thuẫn khá buồn cười, là trong lúc bác bỏ thẳng tay những chữ Việt mà họ cho là chữ Việt Cộng; chê bai, lên án bất kỳ ai sử dụng chúng; thì họ lại hùa theo cách ghép chữ sai cách kỳ quặc hay dùng sai nghĩa xuất phát từ nước Việt Nam Cộng Sản. Sự hiểu biết lưng chừng thật tai hại! Những chữ ghép chướng tai nhất là ‘cặp đôi, cụm từ, chùm ảnh...” vẫn thấy vài nhà văn, nhà báo, hoạt động cộng đồng, truyền thông hải ngoại dùng đấy!

Hôm nay, chúng tôi xin chứng minh những chữ hiện nay bị gán là ‘chữ Việt Cộng,” mà thực tế, là những chữ từng có trong ngôn từ Việt Nam ít nhất cũng hàng trăm năm nay. Chúng được ghi trong các cuốn tự điển ra đời trước khi có Đảng Cộng Sản Việt Nam. Như cuốn Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tín Đức phát hành từ năm 1931 ở Hà Nội;  Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh cũng ra đời từ năm 1931 ở Hà Nội; Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ ra đời ở Sài Gòn; Việt Hán Tự Điển của Huỳnh Minh Xuân, tái bản ở Sài Gòn năm 1963. Những tài liệu này thì không ai có thể gán là xuất xứ từ nước Việt Nam Cộng Sản được.

1. - Qui Hoạch   là trù liệu, vạch ra kế hoạch - Qui Trình   là diễn trình được trù liệu.

Từ Tự Điển Thiều Chửu, chúng tôi tìm thấy các chữ:

Quy là (1) khuôn phép. Như quy tắc 規則, khuôn xử, lấy phép khuôn xử cho người khỏi sai lạc gọi là quy. (2) như quy gián 規諫 khuyên can,  (3) cái lệ đã thành rồi, như lậu quy 陋規 cái lệ hủ lậu.

Hoạch là (1) vẽ; vạch ra cho biết đến đâu là một khu một cõi gọi là hoạch; (2) mưu kế, nNhư mưu hoạch 謀畫, kế hoạch 計畫.

Trình  cũng là khuôn phép. Như chương trình 章程, trình thức 程式 đều nghĩa là cái khuôn phép để làm việc cả. Trình còn nghĩa là kỳ hẹn, việc làm hàng ngày, đặt ra các lệ nhất định, tất phải làm đủ mới thôi gọi là định trình 定程 hay khóa trình 課程.

Chúng tôi xin mượn các định nghĩa trong các tự điển như sau:

        Tự điển Thiều Chửu định nghĩa Qui hoạch là vẽ mưu vạch kế.

        Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức định nghĩa Quy hoạch là trù tính cách thức. Ví dụ: Trước khi làm, nên quy hoạch đường lối  (trang 1207).

        Việt Nam Tự Điển Tín Đức (trang 459) định nghĩa Qui hoạch là trù tính mưu kế. Ví dụ: Nhờ có người giỏi qui hoạch giúp.

        Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân có cả hai chữ: Qui hoạch như qui hoạch thủy lợi; Qui trình như qui trình điều khiển (trang 661).

        Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh (trang 612) ghi Qui hoạch là trù tínhQui trình như chữ qui tắc (trang 613) là ‘chương trình và phạm vi để làm việc (regle, loi).

2.- Hộ khẩu 戶口 là số người trong nhà,  Hộ Chiếu  là  Thông hành.

Chữ Hộ  là nhà cửa, là nơi ở, cũng là dân cư. Khẩu , có nghĩa đen là cái miệng; nhưng cũng còn dùng để tính dân số. Một người là nhất khẩu, một nhà là nhất hộ. Vì thế, Hộ gần với chữ ‘home’ hơn chữ “house” vì đó là một nhà trong đó có những người cư trú. Hộ  trong Hộ Chiếu có nghĩa là bảo vệ; Chiếu  là tờ giấy, văn bằng.

        Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Hộ Khẩu là ‘dân số, số người và nhà trong một thành phố, một tỉnh, một xã, vân vân. ” (trang 663)

        Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh định nghĩa Hộ khẩu là số nhà và số người. (trang 312)

        Cũng Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh định nghĩa Hộ chiếu là “giấy vi bằng để bảo hộ cho kẻ lữ khách hoặc hàng hóa di chuyển (laisser-passer, passe-port). Trang 312.

        Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân (trang 371) có chữ Hộ khẩu với thí dụ: đăng ký hộ khẩuHộ chiếu, ví dụ: hộ chiếu công vụ, hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu thường.

        Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Hộ Chiếu là giấy thông hành (trang 633),

        Việt Nam Tự Điển của Tín Đức (trang 245) định nghĩa Hộ chiếu là giấy thông hành.” Hộ khẩu là số nhà, số người, dùng để nói chung dân số: ví dụ: “Số hộ khẩu ở Hà Nội mỗi ngày một tăng.”

        Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Của trang 425 có định nghĩa Hộ khầu là  đầu người, miệng ăn trong nhà.

3.- Đề Xuất   là nêu ra – Đột Xuất   là hiện ra đột ngột

Đề  là nâng lên, nâng đỡ, phàm dắt cho lên trên, kéo cho tiến lên đều gọi là đề, đề huề 提攜 dắt díu, đề bạt 提拔 cất nhắc. Đề cũng là đưa ra, nêu lên.

Đột  là bất ngờ, thình lình, đột ngột.

Xuất  là ra ngoài; trái nghĩa với nhập là vào.

        Việt Hán TĐ của Huỳnh Minh Xuân có chữ Đề xuất ở trang 256 và Đột xuất ở trang 284.

        Việt Nam TĐ của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa Đề xuất là xuất trình một đề nghị, đưa ra, nêu lên ví dụ: Đề xuất một chủ trương. (trang 438). Ở trang 490, có chữ Đột xuất với định nghĩa “ra, chảy ra thình lình.” Thí dụ: Mồ hôi đột xuất.

        Hán Việt TĐ của Đào Duy Anh trang 217 có chữ ‘nghị án đề xuất’ (motion, preposition); và trang 253 có chữ ‘Đột nhập đột xuất’ với ví dụ: vào thình lình, ra thình lình.

Với những định nghĩa, phân tích, và chứng minh đầy đủ bắng những tài liệu khả tín, có giá trị; chúng tôi tha thiết mong quí vị bỏ đi cái thành kiến nặng tính phân biệt chính trị, mà không gán cho chúng nhãn hiệu ‘chữ Việt Cộng.’ Có một lần trên FaceBook, chúng tôi bị ném đá, bị gọi là tay sai bào chữa cho VC khi tôi chứng minh hai chữ Bức Xúc là có từ xa xưa. Thậm chí, sau khi trưng ra trang tự điển, họ còn nói: “Đã chắc gì tự điển là đúng!” Đến mức đó thì phải chào thua cho đỡ mất thì giờ tranh cãi. Dĩ nhiên, chúng ta là người Việt Quốc Gia, chúng ta phải dựa trên tài liệu, sách giáo khoa trước 1975 ở miền Nam làm tiêu chuẩn. Người hiện nay ở Việt Nam chỉ biết tài liệu mới của Cộng Sản; thì lạ gì khi họ cho rằng con ‘rơi,’ thùng ‘giác,’ ‘rụng’ cụ... là đúng hơn con dơi, thùng rác, dụng cụ.

·  Như thế, thay vì nói qui hoạch, chúng ta có thể nói lập kế hoạch, chương trình, dự án

·  thay vì qui trình, chúng ta có thể nói: diễn trình, trình tựchương trình, (đúng) cách, (theo) bài bản...

·  Như thế, thay vì nói hộ khẩu, chúng ta có thể nói gia cư

·  thay vì hộ chiếu, chúng ta có thể nói: thông hành.

·  Như thế, thay vì nói đề xuất, chúng ta có thể nói nêu ra, đề nghị; 

·  thay vì đột xuất, chúng ta có thể nói: bất ngờ, thình lình, đột nhiên... 

Tóm lại, khi quí vị có thấy lạ tai thì có thể tìm những chữ khác đồng nghĩa mà sử dụng thay thế. 

Nhưng làm như thế, có phải là làm nghèo ngôn ngữ Việt Nam không? 

Miền Nam ngày xưa không nói ‘đăng ký,’ mà dùng chữ ‘ghi danh, ký danh, đăng bạ, đăng bộ.’ Nhưng trong ví dụ của Tự Điển Huỳnh Minh Xuân, có chữ “Đăng ký Hộ khẩu” đấy; vậy xin chớ nói chữ này là của VC.

Vấn đề quan trọng là viết hay nói cho thật đúng với ý nghĩa của nó. Trong bài này, quí vị thấy có một chỗ chúng tôi viết Quy với ‘y’ vì đó là chữ có sẵn trong tự điển Thiều Chửu. Các tự điển khác viết Qui với ‘i’.

Đỗ Văn Phúc

No comments:

Post a Comment